Quy Loan - Đoàn Tử Lai Tập

Chương 260: cuối.




*Chương này có nội dung ảnh, nếu bạn không thấy nội dung chương, vui lòng bật chế độ hiện hình ảnh của trình duyệt để đọc.

Cuối tháng ba, Ôn Du trở lại Lương địa.

Dư Thái Phó dẫn theo quần thần nghênh đón ngoài cửa thành Bách Nhẫn Quan.

Bách tính tự phát ra đón Ôn Du hồi Lương chen chúc kín hai bên quan đạo, đến mức không còn chỗ đứng, thậm chí trèo cả lên sườn núi hai bên đường.

Khi xa giá của Ôn Du nhập quan, từng tiếng “Công chúa” nghẹn ngào chan chứa lệ nóng từ bốn phương tám hướng vang lên, thực tựa núi hô biển dậy.

Ôn Du trong xe khẽ vén rèm nhìn ra ngoài một cái, trong khoảnh khắc vành mắt đã đỏ hoe.

Chiêu Bạch cùng Thanh Vân Vệ cưỡi ngựa theo hai bên xa giá. Thấy cảnh này, nhớ lại năm xưa khi Ôn Du vì hòa thân mà viễn giá đến Nam Trần, bách tính trong quan cũng đứng dọc quan đạo như vậy, theo xe tiễn nàng mấy chục dặm, trong mắt họ cũng dâng lên nỗi chua xót.

Trịnh Hổ cùng Tiêu Lệ cưỡi ngựa đi phía trước xa giá. Nghe tiếng hô vang của bách tính Lương địa, nghĩ đến gian nan khi xưa Ôn Du vì thế cuộc bức bách mà phải xa xứ hòa thân, trong lòng bùi ngùi trăm mối, lại xen lẫn niềm tự hào, liền nói với Tiêu Lệ:

“Bách tính Đại Lương chưa từng quên tẩu tẩu!”

Hắn lưu lại Hổ Hiệp Quan dưỡng thương hai tháng, thương thế vừa khá đã lập tức lên đường sang Trần quốc, chuyến này mới cùng nhau hồi Lương.

Tiêu Lệ không đáp.

Hắn lặng lẽ nhìn về phía trước. Dưới thân là chiến mã toàn thân đen tuyền, bước đều trên quan đạo ken đặc người hai bên. Tiếng vó ngựa hòa cùng tiếng bánh xe lăn phía sau thành một nhịp điệu trầm ổn.

Bách tính Đại Lương dĩ nhiên sẽ không quên Ôn Du.

Khi vương triều sụp đổ, chính nàng một vai gánh lấy giang sơn mục nát này.

Khi dị tộc xâm lấn, cũng là nàng tự thân bước vào tử cục, chỉ để đổi lấy một tuyến sinh cơ cho bách tính hai vùng.

Huống hồ còn có công bình Tây Lăng, thu phục di tộc, hợp nhất Nam Trần, ghi vào đế sách — dẫu là Đại Lương Thành Tổ Hoàng đế Ôn Thế An, e cũng phải kém nàng một bậc.

Cờ xí phần phật trong gió. Bao chuyện cũ, theo tiếng hoan hô như sơn hô hải khiếu của bách tính, từng màn hiện lên trước mắt Tiêu Lệ.

Có lần sơ ngộ nơi Ung Châu thành sau tuyết đầu tan.

Có đêm giao thừa, hắn và nàng mỗi người giấu nửa quyển sổ sách, quay lưng lao vào gió tuyết, lấy mệnh giao phó cho nhau.

Có chuyến vượt sáu trăm dặm đến Bình Châu, sinh tử tương y.

Có đêm mưa sấm, nàng mặc giá y nói rõ hết thảy rồi đoạn tuyệt.

Cũng có trùng phùng giữa gió tuyết phương bắc, trong am sơn ép hỏi được nửa tấm chân tâm, từ đó vượt vạn dặm quan sơn mà truy tầm…

Ba năm trước, khi Ôn Du xuất quan, hắn không ở Bình Châu.

Nhưng may thay, ba năm sau, chính tay hắn đón nàng trở về.

Từ nay về sau, dẫu là thanh sử, hay bia mộ trăm năm hậu thế, tên hắn cũng sẽ cùng nàng khắc chung một chỗ.

Nhập quan xong, Tiêu Lệ dẫn binh mã Bắc cảnh đi trước đến doanh trại tạm trú đóng quân. Xa giá Ôn Du thì thẳng tiến Bình Châu phủ.

Từ sớm đã hay tin, Trần phu nhân cùng Dương phu nhân mẫu tử dẫn theo quyến thuộc quan lại chờ ngoài phủ môn. Đồng Tước ôm A Ly cũng đứng trong đám người.

A Ly hiếu động vô cùng, không hiểu vì sao người lớn lại bế mình đứng ngoài thế này.

Nàng quay đầu nhìn đông ngó tây, chẳng thấy gì thú vị, liền đưa tay mập mạp bấu áo Đồng Tước, “y nha” một tiếng, tựa như hỏi vì sao phải đứng đây.

Đồng Tước bế A Ly vững hơn chút, cười hỏi:

“Lát nữa sẽ gặp Công chúa rồi, tiểu quận chúa cũng vui chứ?”

A Ly còn chưa hiểu được câu dài. Ngày thường được dỗ dành dạy bảo, tuy có thể lắp bắp vài chữ đơn giản, nhưng phần lớn vẫn dùng tiếng “y nha” để biểu đạt ý mình.

Vừa dứt lời, trên phố trước mặt đã xuất hiện nghi trượng xa mã nghênh Ôn Du nhập thành. Một đám quan quyến đều chỉnh sắc mặt, Đồng Tước cũng ôm A Ly theo họ bước xuống bậc thềm.

Đoạn đường đến phủ nha từ sớm đã bị quan binh phong tỏa, hai bên đại đạo không có bách tính ra đón.

Xe ngựa dừng lại, Thanh Vân Vệ vén rèm cho Ôn Du. Nàng vịn tay Chiêu Bạch cúi người bước ra khỏi xe, ánh mắt đầu tiên đã trông thấy A Ly trong vòng tay Đồng Tước.

Nỗi nghẹn trong mắt lập tức dâng lên.

Nửa năm không gặp, A Ly lớn thêm chút ít, song vẫn là một khối nhỏ xíu. Tay mập mạp bám trên vai Đồng Tước, đôi mắt to tròn như nho nhìn nàng, dường như đang cố nhận ra nàng là ai.

“A Ly?”

Ôn Du bước xuống xe, vành mắt đỏ hồng, mỉm cười khẽ gọi.

Nghe tiếng nàng, A Ly thoáng sững sờ. Rồi rất nhanh, cái miệng nhỏ liền méo xệch, tiếng khóc vang dội bỗng bật ra. Nước mắt như chuỗi ngọc đứt dây lả tả rơi xuống, tay chân nhỏ đều vùng vẫy, cố vươn về phía Ôn Du đòi bế.

Ôn Du đón con gái từ tay Đồng Tước, cảm nhận sức nặng trong vòng tay cùng lực ôm chặt nơi cổ mình của con, áp má vào mái tóc mềm mịn trên đỉnh đầu con, nỗi chua xót trong mắt càng đậm, khẽ dỗ:

“A Ly ngoan, đừng khóc… mẫu thân về rồi.”

Các quan quyến đều biết Ôn Du tử thủ thành Qua Lặc hung hiểm đến mức nào. Nàng sai người đưa A Ly về Lương địa, hẳn đã chuẩn bị cho tình huống xấu nhất.

Giờ thấy mẫu nữ trùng phùng, ai nấy đều đỏ hoe vành mắt.

Trần phu nhân dùng khăn lau lệ, tiến lên nói:

“Công chúa đường xa vất vả, hẳn đã mệt. Xin vào phủ trước đã.”

A Ly đã nín khóc, chỉ còn nấc khẽ, hai tay mập mạp vẫn ôm chặt cổ Ôn Du, như sợ bị trao lại cho người khác.

Ôn Du ôm con, khẽ gật đầu đáp lễ với các quan quyến, lại nói với Trần phu nhân và Dương phu nhân:

“Những ngày qua, làm phiền Trần phu nhân và cữu mẫu rồi.”

Trần phu nhân vội đáp:

“Thần phụ hổ thẹn. Công chúa vì bách tính hai vùng mà thân chinh tiền tuyến, thần phụ ở hậu trạch, chỉ làm tròn bổn phận, nào dám nhận hai chữ ‘vất vả’ ấy.”

Dương phu nhân được Dương Bảo Lâm dìu, không ngừng lau lệ:

“Công chúa bình an trở về là tốt rồi…”

Thấy các quan quyến lại sắp bật khóc, Dương Bảo Lâm vội nói:

“Vào phủ rồi hãy nói!”

Mọi người lúc ấy mới vây quanh Ôn Du tiến vào trong phủ.

Trần phu nhân đã sớm thu xếp ổn thỏa chỗ ở cho Ôn Du.

Ôn Du ở trung đường lưu lại cùng các quan quyến hàn huyên một lúc, rồi cho mọi người lui cả, trước hết trở về nơi ở nghỉ ngơi.

Dương phu nhân vốn định theo sang giúp nàng an trí, nhưng từ lúc trông thấy Ôn Du đến giờ, lệ trong mắt bà chưa từng khô. Ôn Du sợ bà khóc hại thân, bèn sai người đưa bà về nghỉ trước.

Dương Bảo Lâm theo Ôn Du về nơi ở thu dọn. Khi Ôn Du đặt A Ly đã khóc mệt mà ngủ say trở lại nôi, chợt nhớ A Nhân cũng đang ở Bình Châu, liền hỏi Dương Bảo Lâm:

“Sao không thấy A Nhân?”

Dương Bảo Lâm còn chưa kịp đáp, một Thanh Vân Vệ ôm bình sứ khí vật bước vào đã buột miệng nói:

“Đây là hài tử nhà ai? Sao lại ở chỗ này?”

Ôn Du nghe tiếng nhìn ra ngoài, chỉ kịp thấy nửa cái đầu của một tiểu nữ đồng đang bám khung cửa nhìn vào. Đối phương như con nai con bị kinh động, quay đầu chạy biến đi.

“A Nhân!”

Dương Bảo Lâm vừa gọi xong, Chiêu Bạch đã đuổi theo ra ngoài.

Đồng Tước đỡ Ôn Du cùng bước ra. Dương Bảo Lâm vừa đi vừa giải thích:

“Nửa năm chúng ta trở lại Bình Châu, A Nhân vẫn luôn như vậy, thấy người lạ là chạy. Trần phu nhân và thị nữ chăm sóc A Nhân nói, khi Thanh Vân Vệ vừa đón A Nhân từ Lạc Đô về, con bé thậm chí còn trốn vào trong tủ. Có lần thị nữ tìm mãi không thấy, sợ quá bẩm lên Trần phu nhân, Trần phu nhân dẫn theo đám nô bộc tìm khắp phủ vẫn không ra, cũng bị dọa không nhẹ.”

Ôn Du vừa đi nhanh vừa nhíu mày hỏi:

“Đã mời đại phu xem qua chưa?”

Dương Bảo Lâm đáp:

“Mỗi tháng đều có đại phu vào phủ bắt mạch cho A Nhân, chỉ là hiệu quả chẳng đáng bao nhiêu. Đại phu nói… có lẽ trước kia A Nhân từng chịu kinh hãi suốt một thời gian rất dài, nên nay gặp người là tránh, cũng chẳng muốn mở miệng nói chuyện.”

Ôn Du nhớ đến hai năm A Nhân cùng tẩu tẩu bị Bùi Tụng giam cầm, chỉ cảm thấy tim như bị ai bóp nghẹt.

Dương Bảo Lâm thấy nàng đau lòng, lại nói tiếp:

“Nhưng A Nhân rất thích A Ly. Có lần mẫu thân bế A Ly đến viện của A Nhân, con bé vốn trốn trong tủ, nghe tiếng A Ly lại phá lệ chui ra. Tuy vẫn sợ người lạ, nhưng lại luôn ở sát bên A Ly. Sau đó khi mẫu thân bế A Ly đi, A Nhân còn sốt ruột lắm.

“Ta và mẫu thân nghĩ, có lẽ A Ly có thể giúp bệnh của A Nhân dần dần khá hơn. Từ đó về sau thường đưa A Ly sang thăm. Lâu ngày, A Nhân cũng tự mình lén sang nhìn A Ly. Hôm nay hẳn là con bé đến tìm A Ly.”

Nói chuyện đã đến giả sơn thạch lâm trong phủ.

Chiêu Bạch cùng mấy Thanh Vân Vệ đang ngồi xổm bên cửa hang giả sơn dỗ dành:

“Quận chúa, bên trong tối lắm, người ra ngoài trước đã…”

Thấy Ôn Du đến, Chiêu Bạch đứng dậy nói:

“Công chúa, tiểu quận chúa nàng…”

Trong thần sắc khó nén vẻ xót xa.

Ôn Du khẽ đáp:

“Ta đều đã biết.”

Nàng khom người ngồi xuống, vạt áo sắc yên hà mềm mại kéo dài trên thảm cỏ xanh, dịu giọng gọi vào trong hang:

“A Nhân, ta là cô cô đây, con còn nhớ cô cô không?”

Vừa dứt lời, vành mắt nàng đã ửng đỏ.

Bên trong không một tiếng đáp.

Ôn Du lại nói:

“Trước kia con thích cô cô bế nhất. Khi đó con mới cao chừng này…”

Nàng đưa tay ra ước chừng chiều cao năm xưa của A Nhân. Giọng vẫn ôn nhu mỉm cười, nhưng trong mắt đã lặng lẽ trào lên nỗi ai hoài.

Ba năm trước, khi nàng rời Lạc Đô sang Trần quốc cầu viện, A Nhân mới chỉ ba tuổi.

Ngày đó huynh trưởng cõng nàng xuất các, mẫu thân cùng tẩu tẩu đứng dưới hiên khóc tiễn. A Nhân nằm trong lòng tẩu tẩu, dường như hiểu nàng sắp đi rất xa, khóc đến đỏ cả mặt, hết tiếng này đến tiếng khác khản giọng gọi “cô cô”.

Nàng sợ khiến mẫu thân và tẩu tẩu thêm thương tâm, ngay cả nước mắt cũng rơi không thành tiếng, vẫn không dám quay đầu.

Không ngờ hai người gặp lại, đã là ba năm cảnh vật đổi thay.

Trong hang vẫn im lìm.

Trong mắt Ôn Du nỗi xót xa càng đậm. Giọt lệ nóng lặng lẽ rơi xuống cỏ, nàng khàn giọng nói:

“A Nhân không cần cô cô nữa sao?”

Dương Bảo Lâm nhìn mà không đành, đang định khuyên nàng đứng dậy, thì một bàn tay nhỏ trắng nhợt gầy guộc chậm rãi thò ra từ trong hang, do dự kéo lấy một đoạn vạt áo rủ bên cửa hang của nàng, lắp bắp nói:

“Cô… cô… đừng… khóc…”

Mọi người đều sững sờ.

Ôn Du nhìn tiểu chất nữ co mình trong hang đá, rõ ràng sợ hãi đến vậy, mà vẫn run rẩy vươn tay ra kéo áo nàng an ủi, tim nàng như bị ai siết chặt, vành mắt càng cay xè.

Nàng đưa tay về phía A Nhân:

“A Nhân, lại đây, để cô cô ôm.”

Trong mắt A Nhân vẫn còn vẻ hoảng sợ, nhưng cuối cùng cũng chậm rãi bò ra khỏi hang, để Ôn Du ôm lấy mình.

Ôn Du chẳng hề để ý cỏ lá bùn đất dính trên người con bé, siết chặt cháu gái vào lòng, đỏ hoe mắt nói:

“A Nhân đừng sợ. Từ nay có cô cô ở đây rồi, cô cô sẽ không để bất cứ ai làm hại A Nhân nữa.”

A Nhân khẽ há miệng, nước mắt từng giọt lớn rơi xuống, nhưng cổ họng không phát ra một âm thanh nào.

Từ rất lâu rồi, nàng vẫn luôn khóc như vậy.

Trong ký ức dường như có một bóng đen đáng sợ, lạnh lùng cảnh cáo nàng rằng, một khi khóc thành tiếng, về sau sẽ chẳng còn được gặp mẫu thân nữa.

Cái ôm này đem lại cho nàng cảm giác an toàn đã thiếu vắng bấy lâu. Rốt cuộc trong cổ họng A Nhân cũng bật ra tiếng nấc khàn đặc, nghẹn ngào từng chữ một:

“Cô… cô… con… nhớ… nương… thân…”

Lời ấy như dao xoáy vào tim Ôn Du. Nàng nhẹ vỗ lưng A Nhân, không để con bé thấy lệ trong mắt mình:

“Cô cô vẫn luôn sai người đi tìm nương thân cho con. A Nhân phải ngoan ngoãn, ăn cơm cho tốt, ngủ cho yên. Như vậy khi nương thân con trở về, nhìn thấy con mới không đau lòng.”

A Nhân nấc nghẹn, lại cố nói:

“Con… đệ… đệ…”

Ôn Du hỏi:

“Con nói gì?”

Đã quá lâu không mở miệng, A Nhân gần như không còn nói được câu trọn vẹn. Nàng chỉ tay về hướng Ôn Du vừa đến, vừa lo lắng vừa nước mắt mờ mi, nói đứt quãng:

“Trong… phòng… đệ… đệ… con… tìm… được… rồi…”

Ôn Du thoáng chốc hiểu ra điều gì.

Khi A Nhân ba tuổi đã biết nhớ việc, nàng nhớ mình từng có một đệ đệ hơn một tuổi. Chẳng lẽ… con bé đã nhận A Ly thành Quân Nhi — đứa bé bị người dưới trướng Bùi Tụng quăng ngã đến chết sao?

Tim Ôn Du như bị bóp nghẹt đến tê dại, giọng khàn đi:

“Đó không phải Quân Nhi, là A Ly muội muội. Sau này sẽ có A Ly muội muội ở bên A Nhân cùng nhau lớn lên.”

A Nhân vẫn chưa thể hiểu vì sao đệ đệ lại thành muội muội. Trong ký ức của nàng, đệ đệ khi xưa cũng lớn chừng ấy.

Từ khi đệ đệ mất tích, nương thân ngày ngày đều khóc. Nay nàng tìm được đệ đệ rồi, vậy nương thân trở về, có phải sẽ không khóc nữa?

Nhưng Ôn Du nói đó là muội muội. Nàng không hiểu hai cách gọi ấy khác nhau thế nào, chỉ ngập ngừng đổi lời:

“Muội… muội?”

Ôn Du dùng khăn tay tỉ mỉ lau sạch bùn đất trên mặt A Nhân, lệ còn vương nơi đáy mắt, khẽ “ừ” một tiếng:

“Là A Ly muội muội của con.”

A Nhân được Ôn Du đưa về nơi ở.

Tự tay nàng tắm rửa, thay y phục cho chất nhi, rồi sai người dẫn A Nhân sang phòng bên cạnh A Ly nghỉ ngơi.

Tối muộn, Tiêu Lệ trở về, thấy Ôn Du ngồi sau án thư xử lý tấu chương, khóe mắt còn ửng đỏ, hắn khẽ nhíu mày, bước đến hỏi:

“Có chuyện gì sao?”

Ôn Du xoa nhẹ thái dương, tóm lược chuyện ban ngày cho hắn nghe, thần sắc u hoài:

“Thanh Vân Vệ vẫn luôn tìm kiếm tẩu tẩu, nhưng đến nay vẫn chưa có tin tức gì.”

Tiêu Lệ nói:

“Không có tin tức, chính là tin tốt nhất.”

Thấy chồng tấu chương đã phê duyệt chất cao bên án, hắn cúi xuống hôn nhẹ lên tóc nàng:

“Đêm đã khuya, ngày mai hãy phê tiếp.”

Hôm nay xử lý đủ loại chính vụ sau khi hồi Lương, Ôn Du quả thực đã mệt. Nàng thuận theo đặt bút xuống. Tay áo rộng khẽ phất qua xấp tấu chương chưa phê xong bên cạnh, vô ý làm rơi một phong.

Tấu chương rơi xuống đất, bung ra.

Ôn Du cúi nhặt lên, vốn chỉ liếc qua nội dung, ánh mắt lại bỗng khựng lại.

Tiêu Lệ nhận ra, nhìn theo, cũng nhíu mày:

“Dư Thái Phó xin trí sĩ?”

Sáng hôm sau, khi xa giá Ôn Du đến phủ Dư Thái Phó, quản sự trong phủ hốt hoảng ra đón, vội vàng cung nghênh nàng vào trong, lại sai người đi bẩm báo.

Đi ngang trung đình, nô tỳ bưng thuốc cũng vội né sang một bên cúi đầu hành lễ.

Ôn Du chú ý đến bát thuốc trên khay, hỏi:

“Thái Phó dùng thuốc đã bao lâu?”

nội dung bảo vệ

nội dung bảo vệ

Ôn Du khẽ nhíu mày.

Đến tiểu viện nơi Dư Thái Phó dưỡng bệnh, ông vừa gắng gượng thay y phục xong, sắc mặt và môi đều xám nhợt. Thấy Ôn Du, ông vội muốn xuống giường hành lễ:

“Lão thần… tham kiến Công chúa…”

“Thái Phó thân thể bất an, không cần đa lễ.”

Ôn Du ra hiệu cho người bên cạnh đỡ ông, để ông tựa nửa nằm lại trên giường, nói:

“Bản cung chỉ nghe nói Thái Phó không khỏe, nên đến thăm.”

Nàng nhìn mái đầu bạc trắng, thân hình gầy gò của ông, khẽ cúi mắt che đi tia đỏ nơi đáy mắt:

“Hai năm này, đã khiến Thái Phó vất vả.”

Dư Thái Phó dựa đầu giường, vừa gặp gió đã ho sặc sụa. Khó khăn lắm mới dằn được cơn ho, cổ họng lại nghẹn lại mấy lần:

“Là… lão thần… vô dụng, không thể tiếp tục thay Công chúa trông coi tiền lộ nữa…”

Động tác Ôn Du định đón bát thuốc từ tay nha hoàn bỗng khựng lại, chua xót dâng tràn đáy mắt.

Ngày xưa, quân thần hai người từng cùng đứng trên thành lâu Tử Dương Quan.

Nàng nói:

“Du chỉ mong Thái Phó trường thọ an khang. Có lão thần như ngài thay Du trông nom, tiền lộ Du mới không sợ ngã.”

Khi ấy, Dư Thái Phó đáp:

“Công chúa cứ yên tâm tiến bước, lão thần… thay người trông coi.”

Giờ đây ông nói lời này, ý vị đã quá rõ ràng.

Ôn Du cố nén nỗi chua xót cuộn trào, đón bát thuốc, dùng thìa khuấy nhẹ, nói:

“Chỉ là tiểu bệnh. Thái Phó cứ an tâm tĩnh dưỡng. Bản cung đã hạ lệnh triệu danh y Lạc Đô đến chẩn trị. Lạc Đô cũng đang trùng kiến, đợi Thái Phó bình phục, khi ấy hồi Lạc Đô cũng vừa hay…”

Dư Thái Phó nghe vậy, lệ già rơi đầy khóe mắt, nhưng vẫn khó nhọc nói:

“Mệnh số của lão thần… trong lòng… tự rõ…”

Ông đầy vẻ bi thương mà mỉm cười:

“Xưa kia… lão thần từng nói… nếu không thể phò tá Công chúa mưu định thiên hạ, sau này xuống suối vàng… e bị Lý công chê cười. Nhưng nay Công chúa đã trừ gian nịnh, lại bình định Tây Lăng, thêm thu phục di tộc, hợp nhất Nam Trần, đặt vào hàng đế vương các triều, cũng đủ tranh cao thấp. Lão thần… tuy xuất lực chẳng bao, song xuống dưới… cũng có thể bẩm với Bệ hạ, Thái tử, Lý công một tiếng vui rồi…”

“Thái Phó…”

Nỗi ai thương nơi đáy mắt Ôn Du rốt cuộc không giấu được nữa. Năm ngón tay siết chặt bát thuốc đến trắng bệch, bao lời nghẹn nơi cổ họng, cuối cùng chỉ thốt ra:

“Giang sơn vừa định, trăm việc đợi hưng, Du còn nhiều điều cần Thái Phó giúp đỡ.”

Tựa như học trò nơi học đường không giỏi làm nũng, ngỡ rằng chỉ cần nói mình còn chưa hiểu bài, tiên sinh sẽ mãi dạy tiếp.

Dư Thái Phó nhìn Ôn Du. Trong đôi mắt già nua ấy, nỗi bi thương cũng chồng chất dần lên.

Ông chậm rãi nói:

“Trước khi thành Qua Lặc truyền về tin thắng, lão thần cũng lo thân xương già này không chịu nổi… phụ trọng thác của Công chúa, không thể phò tá tiểu quận chúa quản trị giang sơn. May thay… đã vì Công chúa tìm được một người có thể trọng dụng…”

Vài ngày sau, Trương Hoài nhận lời mời của Dư Thái Phó, cùng ra ngoại thành xem dân chúng xuân canh, trong lòng khá bất ngờ.

Trước đó vừa có một trận mưa xuân, đường đất còn ẩm, xe ngựa lăn qua hơi xóc. Cỏ non bên đường xanh mướt, nơi ruộng đồng, nông nhân đang tất bật cày bừa.

Xe dừng lại, thị tòng vén rèm. Trương Hoài bước xuống trước, rồi quay lại đỡ Dư Thái Phó.

Dư Thái Phó một tay chống trượng, một tay vịn Trương Hoài. Khi đặt chân lên ghế thấp, chân vẫn run nhẹ.

Trương Hoài nhìn thấy hết, nhưng không hề nhắc đến bệnh tình của ông. Đợi ông đứng vững, mới nói:

“Sau một đêm mưa xuân, hôm nay trời đẹp. Khó được Thái Phó có nhã hứng ra thành xem xuân canh.”

Dư Thái Phó nheo mắt nhìn cánh đồng xanh biếc, chống trượng chậm rãi bước tới, lẩm nhẩm:

“Năm nay nước đầy ruộng phía tây, phụ lão người người bói được mùa…”

Trương Hoài theo sau, tiếp lời nửa câu sau:

“Chỉ cần cày bừa đúng tiết, gói trà mua bánh mà thuê trâu.”

Dư Thái Phó mỉm cười gật đầu, dường như rất vui.

Dư Thái Phó chống trượng, tiếp tục run rẩy bước về phía trước. Trương Hoài lùi nửa bước theo sau, mấy thị tòng giữ khoảng cách xa hơn, lặng lẽ đi phía hậu.

Hai người theo một lối nhỏ xuống bờ ruộng.

Bình Châu xuân đến sớm. Đầu tháng ba đã cấy sớm, mạ non nay xanh mướt, thế lớn đã khá mừng người.

Dư Thái Phó nhìn mà vành mắt nóng lên, chậm rãi nói:

“Thuở trước, khi Tiên đế còn ở Phụng Dương, người đã đặc biệt coi trọng xuân canh. Mỗi năm vào thời tiết này, đều dẫn theo Thái tử và Công chúa thân đến trang tử cấy mạ. Việc cày cấy siêng năng, hệ tại xã tắc dân sinh a…”

Trương Hoài nghe, vẫn không lên tiếng.

Xa xa trong ruộng mạ, có hán tử c** tr*n cấy lúa, có phụ nhân địu con nhỏ sau lưng mà làm lụng, thậm chí thiếu niên nửa lớn cũng đang giúp việc đồng áng.

Trong mắt Dư Thái Phó dâng lên vẻ xót xa:

“Hai năm trước chiến loạn nổi lên bốn phía, bách tính ly tán khắp nơi tránh họa, ruộng tốt bỏ hoang, thu về chẳng được một hạt. Phản quân đi qua lại cướp bóc sạch không, dân chúng trên đường nam đào, đói khát nằm chết la liệt…

“Người sống sót trốn đến châu phủ khác, lại bị cự ngoài thành. Chẳng vì gì khác, chỉ vì kho lương trống rỗng, nuôi không nổi từng ấy người tị nạn… Thế là kẻ vào rừng làm cướp có, kẻ giương cờ nổi dậy có. Những dân từng bị phản quân cướp bóc, cuối cùng lại hóa thành giặc cướp đốt giết dân bản địa…”

Nói đến đây, Dư Thái Phó thở dài, trong mắt đã ánh lệ:

“Ba năm chinh chiến, dân gian mười nhà chín vắng suốt ba năm. Đinh tráng chết không biết bao nhiêu. Năm ngoái vào lúc này, ngoài đồng bận rộn toàn là phụ nữ với trẻ nhỏ…”

Ông lặng nhìn bóng người cày cấy nơi ruộng, hồi lâu mới thở dài:

“Hiền chất, thái bình hôm nay… thực đến chẳng dễ a.”

Trương Hoài đáp:

“Vãn bối hiểu.”

Dư Thái Phó quay nhìn người thanh niên thanh tú trước mặt.

Gió nổi trên đồng, sóng lúa cuộn thành tầng, dường như hòa cùng sắc áo bào xanh tay rộng của hắn thành một màu.

Trương Hoài nhìn xa xăm, nói:

“Không dối Thái Phó, trên đường đến đây, vãn bối còn nghĩ, nếu chuyến này Thái Phó vì Công chúa làm thuyết khách, vãn bối ắt có cả xe đạo lý để cùng Thái Phó phân cao thấp.”

“Nhưng khiến Thái Phó làm thuyết khách, không phải Công chúa, mà là thiên hạ bách tính. Vãn bối chưa kịp nói một chữ, đã thua triệt để.”

Trong mắt Dư Thái Phó trĩu nặng tang thương và ai thiết:

“Đại Lương… dân sinh đa nạn. Trước có ngoại thích Ngao đảng loạn chính, sau có nghịch tặc Bùi Tụng mưu phản. Giang sơn chia cắt mấy năm, cuối cùng còn dẫn dị tộc áp cảnh. Mười lăm vạn đại quân chèn ép, Công chúa và Tiêu quân vì thiên hạ bách tính, cam nguyện tự thân bước vào tuyệt lộ mà chống ngoại địch.”

“Có được hai bậc minh chủ như vậy, là phúc của chúng ta làm thần tử, cũng là phúc của thiên hạ bách tính!”

“Nay chính là lúc vì vạn thế mở thái bình. Lão phu cùng hiền chất… tuy giao tình chưa sâu, hôm nay cũng xin nói thẳng.”

“Hiền chất tuổi còn trẻ, hành sự đã quyết đoán trầm ổn. Trước kia gấp rút tu Trường Thành làm kế sách cuối cùng ngự địch, Công chúa biết được, đã hết lời khen ngợi.”

“Lão phu… tự biết ngày giờ chẳng còn bao. Sau khi lão phu đi, gánh nặng nơi miếu đường này, hiền chất có nguyện tiếp nhận chăng?”

Trương Hoài trầm mặc.

Hắn tự nhận mình tỉnh táo, sớm nhìn thấu thế gian lạnh ấm, vậy mà giờ phút này trong lòng cũng dấy lên một thứ cảm giác khó tả.

Trần quốc đã đồng ý hợp nhất cùng Đại Lương, dời về trong quan. Để tỏ công bằng, tả hữu nhị tướng, Trần quốc tất chiếm một ghế.

Người còn lại, lẽ ra phải do cựu thần Đại Lương đảm nhiệm.

Nhưng Dư Thái Phó nay muốn đẩy hắn lên, tức là muốn đem phần công bằng còn lại trao cho Bắc địa.

Xét cho cùng, cũng vì triệt để thúc thành Nam Bắc nhất thống.

Hắn chợt nhớ đến việc Tống Khâm dẫn tinh kỵ gấp rút đến thành Qua Lặc. Khi ấy quân Lương phạt Tây Lăng đã gần kết thúc, Ôn Du vẫn cho Tống Khâm dẫn binh đến trợ chiến.

Bắc địa binh mã rong ruổi nghìn dặm, dẫu vất vả, rốt cuộc không kịp dự một trận chiến, không có quân công, thì vẫn là không có quân công.

Nếu khi đó người nắm toàn cục là Tiêu doanh, hắn tuyệt đối sẽ không để Lương doanh chia thêm bất cứ phần công lao nào.

Bình định Tây Lăng là công tích lớn đến mức nào?

Nếu có thể độc chiếm, sau này Nam Bắc đối lập, ắt chiếm ưu thế tuyệt đối.

Nhưng Ôn Du đã không làm vậy.

Nàng chỉ nhìn thấy Bắc địa binh mã biết rõ chuyến đi là tuyệt lộ, vẫn ngàn dặm đến cứu viện, nên không tiếc cho họ cơ hội lập công.

Trương Hoài từng ngông cuồng suy đoán, có lẽ khi ấy Ôn Du đang đánh một ván cược lớn vì Nam Bắc nhất thống — song đó ắt hẳn là ngu xuẩn.

Dùng một công tích đủ để Nam Bắc phân đình kháng lễ, đi cược lòng người, sao không ngu?

Nhưng mọi việc về sau lại chứng minh cho hắn thấy — chính sự nhân hậu ấy, lại thực có thể thắng được lòng người.

Trong quân nay đã có lời đồn hai nơi sắp hợp nhất, nhưng tướng sĩ không hề bài xích, chỉ lặng chờ quyết định cuối cùng của Tiêu Lệ.

Không vì gì khác, chỉ bởi từ khi Nam Bắc nhất thống còn chưa thành hình, Ôn Du đối đãi với họ đã đủ công bằng, chưa từng phân biệt Nam Bắc.

Binh mã Bắc cảnh do Tiêu Lệ một tay dựng nên. Quân hán ngoài cầu phú quý, còn mong nơi thế đạo này một chữ “công bằng”.

Trương Hoài tuy giữ vị trí trọng yếu trong Tiêu doanh, nhưng binh mã dưới trướng, người duy nhất họ thực tâm tin phục, vẫn là Tiêu Lệ.

Khi thế gia môn phiệt còn mưu lợi ti tiện, Tiêu Lệ là người đầu tiên trao cho đám quân hán xuất thân thảo mãng sự công bằng tuyệt đối.

Giờ đây Ôn Du cũng làm được.

Vậy nên quyết định cuối cùng của Tiêu Lệ, cũng chính là quyết định của họ.

Đến lúc này, Trương Hoài cũng không còn phân rõ, để Bắc cảnh binh mã chia phần công tích bình định Tây Lăng, rốt cuộc là nhân của Ôn Du, hay là kế của Ôn Du.

Nhưng dù là nhân, hay là kế, đều đã không còn quan trọng.

Là nhân hay kế, đế vương có một trong hai, đã đủ mở ra một thịnh thế.

Chỉ là điều khiến hắn không ngờ — khi Lương doanh đã hợp nhất Nam Trần, thế lực ổn áp Tiêu doanh một đầu, Nam Bắc nhất thống sớm muộn là đại thế, Dư Thái Phó — trọng thần Lương doanh — lại vẫn tận tâm khuyên hắn bước lên cao vị miếu đường.

Hắn nghĩ, nếu là diễn trò, Lương doanh có phải diễn quá mức rồi chăng?

Dư Thái Phó thấy hắn lâu không đáp, ai thiết gọi:

“Hiền chất?”

Trương Hoài theo thói quen định nhếch môi cười mỉa:

“Thái Phó phó thác như vậy, Hạm Dương Công chúa sẽ đồng ý ư?”

Lời tiếp theo của Dư Thái Phó khiến khóe môi hắn hoàn toàn cứng lại.

“Trước khi đến đây, lão phu đã thỉnh ý Công chúa. Đây chính là ý của nàng.”

Bạn đang đọc truyện tại mẹ bông bom chấm com. Đọc truyện trên website gốc để đảm bảo không bị thiếu nội dung!

 

Trương Hoài chỉ cảm thấy linh đài mình như bị roi quất mạnh một nhát.

Thần trí vẫn thanh tỉnh, nhưng trong lòng lại dấy lên một cơn choáng váng khó tả.

Vị hoàng nữ Ôn thị này… thực dám đem tả hữu tướng vị đều giao cho người không phải dòng dõi thân tín của mình sao?

“Gánh nặng này, hiền chất có nguyện tiếp chăng?”

Khi Dư Thái Phó lần nữa hỏi, Trương Hoài đáp:

“Thái Phó và Công chúa không sợ phó thác nhầm người ư?”

Dư Thái Phó nhìn hắn thật sâu:

“Công chúa tin được Tiêu quân, lão phu tin được hiền chất.”

Ba chữ “tin được” ấy, bất ngờ khiến trong mắt Trương Hoài dâng lên một tầng chua xót.

Hai chữ ấy, nặng biết bao?

Rốt cuộc hắn nghiêm cẩn khom người vái Dư Thái Phó một lễ:

“Hoài… ắt sẽ cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi, không phụ trọng thác của Thái Phó và Công chúa.”

Dư Thái Phó đỡ hắn dậy, tựa như đã buông được một tâm nguyện, nhẹ nhõm mỉm cười.

Gió thổi qua ruộng lúa, sóng xanh dập dềnh như biển.

Ông nhìn về cánh đồng xa, chậm rãi nói:

“Chỉ mong năm nay là một năm được mùa.”

Khi Ôn Du lần nữa nhận được tấu chương của Dư Thái Phó, nàng khựng lại thoáng chốc, rồi trong mắt chậm rãi dâng lên một tầng cay xót.

Tiêu Lệ mang thuốc đến, thấy nàng buồn, cố ý đổi đề tài:

“Đất Trần đã giao cho Trần Nguy và Mục Hữu Lương quản lý. Nhân tuyển tả hữu nhị tướng cũng đã định. Còn tướng trấn thủ Hổ Hiệp Quan và Bách Nhẫn Quan, nàng đã có dự tính?”

Ôn Du đáp:

“Dương Thước năm xưa lén thả Bùi Tụng xuất quan, suýt gây đại họa. Nhưng cuối cùng vì ngăn Tây Lăng nhập quan, lại hy sinh cả phủ. Nghĩ hắn trấn thủ biên quan nhiều năm, mấy lần đánh lui cường địch, khi Lạc Đô thất thủ cũng nhờ hắn giữ Tây cương không loạn, rốt cuộc công lớn hơn tội, nên truy phong.

“Thê tử hắn trung liệt mẫn huệ, cũng nên truy phong riêng, đồng thời ban thưởng cho tộc nhân. Con hắn còn nhỏ, có thể đón về Lạc Đô nhập học Quốc Tử Giám.”

“Còn Hổ Hiệp Quan, ta định phái Phạm tướng quân đi trấn thủ, chàng thấy sao?”

Tiêu Lệ trầm ngâm giây lát, gật đầu:

“Phạm tướng quân có công cùng Hổ Hiệp Quan đánh lui đại quân Tây Lăng, phái hắn đi là thích hợp nhất.”

“Còn Bách Nhẫn Quan…” Ôn Du rút một phong tấu từ chồng văn thư trên án, “giao cho Đàm Nghị tướng quân và nghĩa huynh của chàng là Tống Khâm cùng trấn thủ, thế nào?”

Tiêu Lệ nói:

“Đại ca chỉ muốn sống đời nhàn vân dã hạc, đã xin ta cáo lui, trở về Mẫu Đơn Pha rồi.”

Giữa mày Ôn Du thoáng hiện nét cô tịch, chậm rãi nói:

“Ta vốn định giữ Hề Vân lại Lạc Đô, xem ra cũng chẳng giữ được.”

Từ khi Lý Nghiêu chiến tử ở Ngõa Diêu Bảo, đến Giang Nghi Sơ rơi vực mất xác, rồi Dư Thái Phó bệnh nặng trí sĩ, người thân cận từng người rời khỏi nàng. Có những lúc nàng cũng cảm thấy cô đơn.

Tiêu Lệ nhận ra điều ấy.

Khi Ôn Du vẫn nhíu mày bàn về phong thưởng cho các thần tử khác, hắn khẽ nâng cằm nàng, buộc nàng nhìn mình.

Đôi mày mắt anh khí sâu thẳm, hắn nửa đùa nửa thật:

“Có công hay không công nàng đều nhắc đến cả, có phải cũng nên nghĩ xem ban cho ta phong hiệu gì chăng?”

Nét u sầu giữa mày Ôn Du vì câu nói ấy mà tan đi phần nào.

Nàng chậm rãi nở một nụ cười hiếm hoi trong mấy ngày qua:

“Xin Tiêu quân cùng ta nhập chủ Lạc Đô, đồng chưởng thiên hạ, thế nào?”

Tiêu Lệ cúi đầu hôn nơi khóe môi nàng, đáp:

“Không dám từ.”

Tin Nam Bắc hai cảnh kết Tần Tấn chi hảo, tái quy nhất thống truyền ra, dân gian không ai là không hoan hỉ.

Chỉ có vài vị cựu thần Trần quốc lẩm bẩm đôi lời, nhưng sớm đã hay tin Ôn Du sẽ lập A Ly làm trữ quân, mà Nam Bắc nhất thống lại là đại thế không thể ngăn, nên cũng dần im tiếng.

Ôn Du cùng bách quan thương nghị, định quốc hiệu là “Càn”.

Việc luận công ban thưởng, truy phong cũng đã soạn thảo xong, chỉ chờ hồi Lạc Đô cử hành đại điển đăng cơ, rồi chiếu cáo thiên hạ.

Ngay lúc ấy, Thanh Vân Vệ truyền về tin Giang Nghi Sơ còn sống.

Chỉ là nàng dường như không còn nhớ chuyện xưa, ở Lư quận hạ du Lạc Đô, trong một am sơn nhỏ cắt tóc làm ni, quy y cửa Phật.

Ôn Du nghe tin, không thể ngồi yên, trong ngày liền cùng Tiêu Lệ khởi hành đến Lư quận.

Dương phu nhân biết Giang Nghi Sơ còn sống, vui mừng khóc một trận, nhất quyết muốn đi theo. Thế là mẫu tử Dương phu nhân cũng cùng lên đường.

Mấy năm nay Lạc Đô binh hỏa liên miên, quận huyện quanh vùng đều bị liên lụy, nhiều nhà dắt díu nhau nam thiên, trong cảnh nội chùa am cũng vắng hương khói.

Năm ngoái, Nam Bắc hợp lực thảo phạt Bùi Tụng, đoạt lại Lạc Đô, thiên hạ mới dần thái bình. Dân chúng người hồi hương, kẻ trùng kiến cố thổ, các tự viện cũng từ đó mới dần có hương khách đến lễ bái.

Trước kia vì tìm Giang Nghi Sơ, Ôn Du từng lệnh Thanh Vân Vệ dán họa tượng nàng khắp các cửa thành châu phủ, tiếc rằng một năm trôi qua vẫn bặt vô âm tín.

Gần đây, một vị phu nhân thương nhân hồi hương thăm thân, vốn nhất thời hứng khởi vào một am sơn vô danh trong núi thắp hương. Thấy trong am có một ni sư giải quẻ cho hương khách, gương mặt rất quen, không khỏi nhìn thêm mấy lần.

Vài ngày sau, phu nhân ấy trở lại thành, tại cửa thành lại thấy quan phủ treo họa tượng tìm Giang Nghi Sơ, mới giật mình nhận ra ni sư trong am chẳng phải chính là Thái tử phi mà quan phủ đang tìm sao, liền vội bẩm báo việc này.

Ngày Ôn Du một đoàn người đến Đồ Vân Am, mưa xuân cuối mùa đã dứt sau mấy ngày liên tiếp.

Trụ trì sư thái trong am nghe tin có đông quan binh lên núi, vô cùng kinh hoảng, liền dẫn theo chúng đồ đệ, sa di vội vã ra sơn môn nghênh tiếp.

“Bần ni không biết có quý nhân giá lâm, thất lễ nghênh tiếp từ xa.”

Đường núi dốc đứng, xe ngựa khó thông hành.

Khi sơn kiệu hạ xuống, sư thái vội dẫn chúng ni chắp tay hành lễ.

Có tiểu sa di tuổi còn nhỏ, từ trước chưa từng thấy trận thế lớn như vậy trên núi, liền lén ngẩng mắt nhìn vị quý nhân bước xuống kiệu.

Bên kiệu, một nữ vệ ăn vận gọn gàng vốn định tiến lên đỡ, nào ngờ một nam tử cao lớn anh tuấn đã nhanh hơn nàng một bước.

Hắn không chút kiêng dè nắm lấy đầu ngón tay trắng như ngọc của nữ tử kia, tay còn lại gần như vòng nửa ôm lấy eo nàng, đỡ nơi khuỷu tay.

Một tư thế thân mật mà cường thế, không cho kẻ khác đến gần nửa phần.

Tiểu sa di âm thầm kinh ngạc, nhưng thân hình cao lớn của nam tử che khuất tầm nhìn, nàng chỉ kịp thấy một đoạn váy dài rũ xuống nền đá xanh khi nữ tử bước khỏi kiệu.

Trên lớp gấm thêu tinh xảo, ánh nắng sớm sau mưa phản chiếu, tựa như có lưu quang lấp lánh.

“ Sư thái miễn lễ. Bản cung đột ngột đến đây, là vì muốn tìm một người trong am.”

Giọng nữ tử nhẹ nhàng vang lên.

Tiểu sa di chỉ thấy thanh âm ấy cũng cực kỳ êm dịu, càng tò mò nhìn kỹ hơn.

Ánh ban mai xuyên qua tán cây rơi vụn trên gương mặt nàng — dung mạo ấy tựa như tiên nhân hạ phàm.

Thần tình nàng ôn hòa như ánh nắng đầu xuân, nhưng nơi đáy mắt lại ẩn chứa một nỗi bi mẫn sâu xa.

Tiểu sa di nhìn đến ngây người, hai chữ “Bồ Tát” suýt nữa buột khỏi môi.

Chỉ là ánh mắt nàng quá lộ liễu, không ngờ nam tử kia chợt quay đầu, lạnh lẽo liếc về phía sau.

Tiểu sa di giật thót, lời đến môi cũng nghẹn lại.

Bên kia, sư thái đang nói với Ôn Du:

“Năm ngoái vào lúc này, đệ tử trong am xuống núi bố thí, bên bờ sông cứu được một nữ tử. Nay nàng đã quy y cửa Phật, pháp danh Tịnh Trần. Thí chủ đến đây… phải chăng vì nàng?”

Ôn Du khẽ gật đầu.

Sư thái niệm một tiếng Phật hiệu:

“Chung quy vẫn còn một đoạn trần duyên chưa dứt. Thí chủ xin theo ta.”

Mọi người theo sau tiến vào sơn môn.

Tiểu sa di lúc ấy mới thở phào một hơi, tim vẫn còn đập thình thịch.

Một sa di bên cạnh nhỏ giọng trách:

“Tiếp khách quý mà ngươi cũng thất thần? Lỡ đắc tội quý nhân, sao gánh nổi?”

Tiểu sa di lại lẩm bẩm:

“… Bồ Tát…”

“Cái gì?”

Tiểu sa di chắp tay niệm Phật, vẻ mặt thành kính, khóe môi cong lên đầy hân hoan:

“Ta đã nhìn thấy ý chỉ của Phật Đà — Bồ Tát giáng thế, Minh Vương hộ pháp…”

Sư thái dẫn Ôn Du cùng mọi người đến giảng kinh điện.

Từ xa đã nghe tiếng tụng kinh vang lên từng hồi.

Sư thái nói:

“Gần đây am có ba đàn đại giới pháp hội. Những đệ tử mới nhập Phật môn trong hai năm qua, đều đang thọ giới tại đây.”

Vừa nói đã đến trước điện.

Sa di trông coi bên ngoài thấy sư thái dẫn theo một đoàn khách khí độ tôn quý đến, vội chắp tay hành lễ.

Sư thái dặn dò vài câu, nàng liền vội vào trong, ghé tai nói gì đó với truyền giới sư thái đang giảng kinh.

Chẳng bao lâu, tiếng tụng kinh dần lắng xuống.

Các đệ tử thọ giới trong điện cũng lục tục bước ra.

Ánh mắt Ôn Du lướt qua mấy chục ni sư mặc tăng y, đầu đội tăng mũ.

Chỉ trong vài nhịp thở, nàng đã nhìn thấy Giang Nghi Sơ.

Lệ nơi đáy mắt tức thì không kìm được mà dâng lên.

So với ký ức, Giang Nghi Sơ gầy đi rất nhiều.

Nàng cùng các sa di khác bước ra, thần tình nhẹ nhàng an hòa, tựa như thực sự đã quên hết tiền trần.

nội dung bảo vệ

nội dung bảo vệ

“Trụ trì gọi con?”

Dương phu nhân từ lúc lên núi đến giờ nước mắt chưa từng khô.

Nay thấy Giang Nghi Sơ thực sự không còn nhận ra mình, càng lấy khăn che mặt, nghẹn đến không nói nên lời, phải nhờ Dương Bảo Lâm đỡ mới đứng vững.

Giang Nghi Sơ nhận ra sự khác thường ấy, cũng cảm nhận được ánh mắt đỏ ửng nặng trĩu nơi dung nhan như thần phi tiên tử kia đang nhìn mình.

Nàng tránh ánh mắt ấy, do dự nhìn sư thái:

“Đây là?”

Sư thái đáp:

nội dung bảo vệ

nội dung bảo vệ

Trên gương mặt Giang Nghi Sơ thoáng qua một tia mờ mịt.

“Tẩu tẩu…”

Ôn Du khàn giọng gọi.

Dương phu nhân cũng nghẹn ngào:

“ Nghi Sơ…”

Giang Nghi Sơ như bị kinh hãi, lùi lại hai bước.

Rồi ánh mắt nàng lại trở nên bình hòa, kiên định.

Nàng chắp tay niệm Phật, nói:

“Duyên khởi duyên diệt, đều là định số. Tiền trần vãng sự, bần ni đều đã không nhớ. Ắt là Phật từ bi, đã giúp bần ni đoạn tuyệt trần duyên. Bần ni pháp danh Tịnh Trần, không còn là người các vị tìm nữa. Mong chư vị thí chủ sớm khai ngộ, chớ nên chấp trước.”

Nói xong, nàng cúi đầu thi lễ với sư thái, rồi quay lại theo đoàn sa-di vừa thọ giới rời đi.

Ôn Du trong nỗi đại bi bước tới định đuổi theo, nhưng bị trụ trì sư thái ngăn lại.

Sư thái thở dài:

“Thí chủ thân phận tôn quý. Hôm nay nếu nhất quyết mang Tịnh Trần đi, bần ni tự không thể ngăn. Chỉ là, về những việc trước khi Tịnh Trần xuống tóc, bần ni nghĩ… thí chủ nên biết.”

Dương phu nhân đã khóc đến gần như ngất.

Ôn Du đành để Dương Bảo Lâm đưa bà đến thiền phòng nghỉ ngơi, còn mình theo sư thái sang thiên điện của giảng kinh điện.

Đang độ giao mùa xuân hạ.

Ngoài điện, cổ thụ che trời, bóng râm đậm đặc phủ lên mái ngói.

Sư thái tự tay rót một chén trà thanh cho Ôn Du.

Trong làn hơi trà mỏng manh, bà chậm rãi nói:

“Khi Tịnh Trần được cứu về am, chiến loạn vừa qua không lâu. Dân dưới núi đã dắt díu nhau tản cư, quanh Đồ Vân Am trăm dặm không tìm được một lang trung.

“Thương thế nàng lại nặng. Khi ấy chúng ta đều nghĩ… nàng không qua khỏi.”

Sư thái khẽ thở dài:

“Nhưng nhờ mấy bát thuốc dưỡng thân cầm cự, nàng lại sống. Tuy hôn mê suốt nửa năm, nhưng rốt cuộc cũng tỉnh.”

“Khi ấy nàng còn chưa xuống giường được. Sa di mang cơm nước và thuốc đến, nàng lại không chịu uống dù chỉ một giọt.

“Bần ni đến thăm, trong mắt nàng không còn chút sinh khí. Nàng nói… nàng là người đáng chết, không nên tiếp tục sống trên đời này.”

Đến đây, nơi khóe mắt Ôn Du đã có giọt lệ nóng lăn xuống, ẩn trong làn hơi trà mờ mịt.

Ngoài điện, một con sẻ vàng đậu trên cành cổ thụ, ríu rít hót vang.

Sư thái nhìn ra ngoài điện, khẽ thở dài thêm một tiếng, chậm rãi nói:

“Bần ni đã khuyên nàng rất nhiều, nhưng sinh cơ trong lòng nàng đã tắt, mọi ngoại lực rốt cuộc đều vô ích.”

“Hôm ấy đúng lúc mưa lớn. Tổ chim trên cây ngoài phòng bị gió quật rơi xuống, cả ổ chim non rơi lăn lóc dưới mưa. Khi phát hiện, chỉ còn một con chưa mở mắt còn chút sinh khí, giữa mưa ngẩng cổ kêu thảm. Chim mẹ thấy tổ đã vỡ, sớm bỏ cây mà đi.”

“Bần ni nói với nàng: nếu sinh tử tội nghiệp đều do tự mình định đoạt, vậy con chim non dưới gốc cây kia, từ khi phá vỏ đến nay, chưa từng trộm một hạt lúa, cũng chưa từng bắt một con phù du, cớ sao đáng chết?”

“Tịnh Trần bèn đem con chim ấy về phòng. Tuy nàng vẫn không chịu ăn uống, nhưng lại hết lòng chăm sóc con chim non.”

“Vài ngày sau, con chim lông tơ ướt sũng trong mưa, vốn nên tuyệt mệnh ấy, lại kỳ tích sống lại.”

“Tịnh Trần nhìn con chim, vừa cười vừa khóc, khóc rồi lại cười. Cuối cùng nàng xõa tóc, chân trần, từng bước một, mỗi bước một lạy đến đại điện, nói rằng đã quên tiền trần, cầu bần ni vì nàng cạo tóc xuất gia.”

Nghe xong, Ôn Du như lạc giữa sương mù.

Một giọt lệ nữa rơi xuống án trà, nàng mới khàn giọng nói:

“Những điều sư thái nói… bản cung đều hiểu.”

Khi chống tay đứng dậy, chân nàng còn lảo đảo một bước.

May mà Chiêu Bạch, đôi mắt cũng đỏ hoe, kịp thời đỡ lấy nàng.

Sư thái nhìn bóng lưng nàng vén dải phi bạch, lặng lẽ bước ra khỏi điện vào rừng cổ thụ um tùm, chắp tay khẽ niệm:

“A Di Đà Phật.”

Còn nói về phía Dương Bảo Lâm dìu Dương phu nhân đến thiền phòng nghỉ ngơi.

Đi chưa được bao xa, Dương phu nhân nghĩ đến việc Giang Nghi Sơ đã không còn nhớ họ, lại nghĩ A Nhân còn nhỏ dại như vậy, trong lòng càng thêm đau xót, khóc đến không thở nổi.

Sa-di dẫn đường thấy bà tuổi đã cao, sợ xảy ra chuyện, liền đưa họ tạm nghỉ ở Tàng Kinh Các gần đó.

Đến nơi, Dương phu nhân nghe tiếng tụng kinh của vị tỳ-kheo-ni trông tháp, lại khóc thành lệ nhân.

Thấy trong tháp đá trên vách bày vô số đèn Trường Minh, nghe nói có thể cầu phúc cho người đã khuất, bà liền muốn thắp cho người trong Trường Liêm Vương phủ mỗi người một ngọn.

Khi bà nói xong sinh thần và danh húy, tiểu sa-di thắp đèn, viết bài vị mang vào sâu trong Phật tháp, bỗng kinh ngạc nói:

“Mấy vị thí chủ này… đèn Trường Minh đã được thắp rồi mà?”

Dương phu nhân cùng Dương Bảo Lâm đều sững sờ, theo vào xem.

Chỉ thấy trên vách đá, phía sau mấy ngọn đèn Trường Minh kia, bài vị khắc rõ tên tuổi mấy người Trường Liêm Vương phủ.

Ngay cả cái tên ít người biết — tiểu thế tử Ôn Thời Quân chưa đầy một tuổi đã bị ngã chết — cũng rõ ràng ở đó.

Dương phu nhân đứng lặng, nước mắt ào xuống.

Trong am này, có thể thắp đèn Trường Minh cho người Trường Liêm Vương phủ… còn có thể là ai?

Dương Bảo Lâm cũng lệ ướt vành mi, nói:

“Con đi tìm Công chúa.”

Nàng vừa bước đã bị Dương phu nhân quát khẽ:

“Quay lại.”

Dương Bảo Lâm ngơ ngác nhìn mẫu thân.

Dương phu nhân vẫn nhìn chằm chằm những bài vị khắc danh Trường Liêm Vương phủ trên vách đá.

Nước mắt đã chảy tràn qua khóe môi, bà mới nghẹn ngào nói:

“Nếu đây là lựa chọn của Thái tử phi… thì cứ theo ý nàng đi. Đừng để Công chúa biết mà thêm phần thương tâm…”

Tiêu Lệ đứng đợi ngoài điện.

Thấy Ôn Du bước ra, mắt nàng càng đỏ, sắc mặt mệt mỏi đến mức lộ ra vẻ yếu đuối hiếm thấy, hắn khẽ nhíu mày, tiến lại gần hỏi:

“Sư thái đã nói gì?”

Ôn Du chỉ nhẹ lắc đầu:

“Đi thôi.”

Nếu tẩu tẩu thực sự quên hết tiền trần mà xuất gia, nàng còn có thể khuyên quay về.

Nhưng đây là quyết định được đưa ra trong khi nhớ rõ tất cả… nàng còn có thể khuyên điều gì?

Ôn Du nhìn ngôi cổ tự trang nghiêm dưới bóng rừng, nghe tiếng gió lướt qua ngọn cây xào xạc, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi tịch liêu vô ngôn.

Tiêu Lệ thấy nàng như vậy, mày càng nhíu chặt hơn.

Hắn liếc nhìn đại điện phía sau, cuối cùng vẫn không hỏi thêm.

Hai người đi chưa được bao xa thì gặp Dương phu nhân và Dương Bảo Lâm — vốn định đi thiền phòng nghỉ, nhưng nay mắt cả hai đều sưng đỏ, phản ứng khi thấy Ôn Du cũng có phần khác lạ.

“Phu nhân không khỏe, chẳng phải đã đến thiền phòng nghỉ sao?”

Chiêu Bạch sợ họ nhắc đến Giang Nghi Sơ khiến Ôn Du thêm đau lòng, vội chuyển đề tài hỏi.

“Mẫu thân… vừa rồi ngã một cái…”

“Ta đau đầu…”

Hai mẫu tử cùng lúc mở lời.

Cả hai khựng lại, Dương Bảo Lâm vội chữa:

“Còn đập phải đầu nữa.”

“À… là vậy…”

Dương phu nhân ôm trán, mắt đỏ hoe không giấu được, nói rồi suýt lại rơi lệ:

“A Ngư… ta… ta muốn xuống núi trước…”

Không ngờ Ôn Du chỉ lặng lẽ đáp:

“Vậy cùng xuống núi đi.”

Hai mẫu tử lại sững người, nhìn sang Chiêu Bạch.

Từ ánh mắt nàng nửa rũ xuống, nơi khóe mi vẫn còn vệt đỏ, họ hiểu ra điều gì.

Trong khoảnh khắc, lệ trong mắt không sao kìm nổi nữa.

Giang Nghi Sơ… không muốn gặp họ.

Đoàn người lên núi vội vàng, xuống núi cũng vội vàng.

Tin tức truyền đến giảng kinh điện khi các sa-di buổi chiều tiếp tục thọ giới.

Nhịp gõ mõ của Giang Nghi Sơ chậm lại một nhịp.

Trong thoáng chốc, nàng dường như khẽ nghiêng đầu, đôi mắt ửng đỏ nhìn ra ngoài điện.

Chỉ là tia thương hoài thuộc về hồng trần ấy, rất nhanh đã bị tiếng tụng kinh trang nghiêm cuồn cuộn nhấn chìm.

Đường thủy hồi trình có thể thẳng đến Lạc Đô, quan phủ địa phương sớm đã chuẩn bị phúc thuyền chờ sẵn.

Trước khi lên thuyền, Ôn Du dặn dò quận quan:

“Triều đình chẳng bao lâu nữa sẽ cấp ngân khoản, khanh hãy cho tu sửa lại Đồ Vân Am cho chu toàn, lại phái thêm binh sĩ đóng giữ trên núi, nhất thiết phải bảo đảm an nguy cho các sư phụ trong am.

“Về sau nếu am có điều chi khó xử, các khanh nên tận tâm giúp đỡ. Nếu không quyết được, có thể trực tiếp tâu về Lạc Đô.”

Quận quan dĩ nhiên hiểu nàng làm vậy là vì ai, nửa phần cũng không dám sơ suất, khom người liên thanh đáp vâng.

Phúc thuyền khởi hành, ngược dòng nước mà đi.

Khi lướt qua khúc quanh núi, phía sau sườn núi lộ ra một pho tượng Phật đá gần cao ngang với cả ngọn sơn.

Rõ ràng niên đại đã rất lâu. Tượng Phật tựa nước mà đứng, thân tượng phủ đầy rêu xanh, lại hằn dấu vết phong sương bào mòn qua năm tháng.

Các thần tử trên boong thuyền không khỏi kinh thán.

Có người biết lai lịch pho đại Phật này, liền cảm khái:

“Đây là vào niên hiệu Gia Vĩnh của Tiên Trần, Dụ Vương vì cầu phúc cho mẫu thân đã cho đục tạc. Sau đó trải qua hơn bảy mươi năm nội loạn, việc tạc tượng từng bị đình lại.

“Tiền Tấn diệt Trần mà thay thế, Tấn Văn Công du ngoạn đến đây, thấy pho đại Phật chỉ tạc được một nửa, cho là tổn hại thiên đức, bèn hạ lệnh tiếp tục đục tạc.

“Từ đó lại mất hơn năm mươi năm nữa, tượng Phật mới hoàn thành. Chỉ là chưa kịp dựng điện che phủ, Tiền Tấn lại rơi vào trăm năm phân tranh…”

Nghe xong, các thần tử khác cũng không khỏi thở dài.

Thấy Ôn Du không nói gì, họ cho rằng mình công nhiên bàn chuyện tiền triều e có phần thất thố, liền lần lượt tìm cớ cáo lui, trên boong thuyền chẳng bao lâu chỉ còn lại Ôn Du và Tiêu Lệ.

Ôn Du đứng lâu nơi mũi thuyền, nghiêng mắt nhìn xa.

Dải phi bạch vắt nơi cánh tay bị gió sông thổi phồng ra phía sau, tựa thần nữ phi thiên trên bích họa.

Tiêu Lệ tiến đến hỏi:

“Nàng đang nhìn gì?”

Ôn Du đáy mắt vẫn đỏ, khẽ đáp:

“Nhìn núi này, nước này, và pho đại Phật kia.”

Gió thổi lay mái tóc mai bên thái dương nàng.

Thần sắc nàng nhuốm vẻ tang thương:

“Nhân gian chiến hỏa nổi lên rồi lụi tắt, vương triều thay đổi.

“Giữa non sông đá núi ngàn đời bất biến, tất cả chỉ như hoa đàm nở chớp mắt.”

“Trong sử sách truyền lại hậu thế, cũng chỉ là lật thêm một trang mới.”

“Vương triều còn như vậy, huống chi con người?”

“Đến rồi đi, rốt cuộc cũng như dòng nước Đông cuồn cuộn, chảy ra biển mà chẳng có ngày về…”

Đến câu cuối, nỗi xót xa trong mắt nàng lại nặng thêm mấy phần.

Gió trên boong thuyền khá lớn.

Tiêu Lệ mở áo choàng, che gió cho nàng.

Hắn cùng nàng nhìn dòng nước giữa hai bờ núi xanh cuồn cuộn trôi, trầm giọng nói:

“Giang thủy dẫu đi, ta không đi.”

Giữa nỗi bi thương và tịch liêu mênh mang, Ôn Du chợt cảm thấy một thứ bình yên khiến nàng suýt rơi lệ.

Nàng tựa con bạch lộ lạc đàn, bay quá lâu, sức cạn tưởng sẽ rơi xuống hồ sâu vô tận, nào ngờ dưới chân vẫn có một bãi đất lặng lẽ chờ đợi.

Ôn Du tựa đầu lên vai Tiêu Lệ.

Trong đôi mắt còn vương sắc đỏ, phản chiếu sóng nước và trời xa.

Nửa đời vội vã này, họ đã luôn mất mát.

Nhưng từ nay, hai người đã là một phần không thể tách rời trong số mệnh của nhau, sẽ không còn lạc mất nữa.

Con thuyền lớn xé từng lớp sóng biếc, giữa trùng trùng xuân sơn, tiếp tục xuôi về phía trước.

Chở người trở về.


Bình luận không được tính để tăng cấp độ. Tài khoản không bình luận được là do: avatar nhạy cảm, spam link.
Mời bạn thảo luận, vui lòng không spam, share link kiếm tiền, thiếu lành mạnh,... để tránh bị khóa tài khoản
Xem thêm bình luận