Ôn Du bệnh nặng chưa khỏi, không tiện đường sá lao lực, nên tạm lưu lại Qua Lặc Thành dưỡng bệnh.
Nay có Lý Tuân và Chu Tùy ở bên, mọi việc vụn vặt phức tạp trong quân chính đều do hai người thương nghị, sắp xếp thành điều mục rồi trình Ôn Du xem qua là được.
Trần Nguy phụng mệnh dẫn ba vạn binh mã, mang theo linh cữu Hách Y cùng một chúng tướng Tây Lăng đầu hàng, tiến về vương thành Tây Lăng, kết thúc nốt hồi cuối của trận chiến này.
Tống Khâm thống lĩnh hai vạn kỵ binh tinh nhuệ phương Bắc, từ nội địa Đại Lương gấp rút đến Hổ Hiệp Quan. Tới nơi biết chiến sự đã chấm dứt, lại vội vã chạy tới Qua Lặc Thành, rốt cuộc cũng kịp tham dự đoạn cuối cuộc chinh phạt Tây Lăng.
Tây Lăng vốn còn gắng gượng chống đỡ, nhưng khi nhìn thấy thi thể Hách Y cùng một đám tướng lĩnh Tây Lăng quy hàng, rốt cuộc cũng không còn chiến ý.
Trước thềm năm mới, Ôn Du nhận được thư cầu hòa do chính Tây Lăng Vương đích thân thảo.
Hai năm nay, Lương – Trần đều mỏi mệt vì binh đao, Ôn Du vốn cũng không muốn đánh tiếp. Nàng triệu tập quần thần bàn bạc điều kiện nghị hòa. Khi trước, lúc ở Vương đình kết minh cùng mười sáu bộ Đại Mạc, nàng đã hứa sẽ giúp họ đòi lại lãnh thổ bị Tây Lăng chiếm đoạt.
Nhưng tiền tuyến rất nhanh truyền về cấp báo: sau khi Tây Lăng đề nghị cầu hòa, quân Lương và mười sáu bộ quả thật đã ngừng chiến, nào ngờ ban đêm lại bị Tây Lăng tập kích doanh trại, thương vong thảm trọng.
Quân Lương và mười sáu bộ đang phẫn nộ cho rằng Tây Lăng trá hàng, liền một đường công thẳng vào vương thành Tây Lăng. Nào ngờ phát hiện Tây Lăng Vương đã chết trong vương cung, nơi bụng cắm đúng một thanh chiến đao chế theo kiểu quân Lương.
Vương hậu Tây Lăng trốn khỏi vương thành liền đổ ngược tội, nói rằng sau khi cầu hòa, Tây Lăng Vương vẫn bị quân Lương và mười sáu bộ đêm tập vương thành, tàn nhẫn sát hại; Đại Lương và mười sáu bộ căn bản không có ý hòa đàm.
Các bộ tộc Tây Lăng vốn đã hết chiến ý nay lại vùng lên tiếp tục đối kháng với quân Lương và mười sáu bộ.
Ôn Du xem xong cấp báo, biết rằng một trận đại chiến đánh đến cùng rốt cuộc không thể tránh khỏi, chỉ nói bốn chữ:
“Tốc chiến tốc quyết.”
Ba vạn quân Lương cùng binh mã mười sáu bộ Đại Mạc bắt đầu quét ngang, từng bước đẩy sâu vào Tây Lăng.
Cuối tháng Giêng, tiền tuyến lại truyền về tin thắng trận.
Tây Lăng đã là mạt lộ cường nỗ, dưới thế công lôi đình ấy, rốt cuộc cũng tan rã.
Các bộ vốn thuộc Tây Lăng toàn bộ tách ra, giết Tây Lăng Vương hậu làm vật đầu danh trạng, xưng nguyện quy phục Đại Lương, năm năm triều cống; lãnh thổ chiếm đoạt của mười sáu bộ cũng lần lượt hoàn trả, lại còn bồi thường.
Tin tức truyền về Lương – Trần, quần thần gần như không dám tin là thật. Xác nhận đi xác nhận lại không sai, mới kích động đến mức lệ rơi đầy.
Bách tính dưới dân gian cũng mừng như điên, truyền tai nhau khắp nơi. Phố chợ trong thành náo nhiệt suốt mấy ngày đêm, đèn đuốc sáng rực không tắt.
—
Giữa tháng Hai, Ôn Du ban sư hồi Trần Vương đình.
Đại quân còn cách cổng thành hơn mười dặm đã có dân chúng hai bên đường chờ đón, một đường chạy theo xe giá của Ôn Du mà tha thiết hô “Công chúa”, gương mặt ai nấy đều rạng rỡ vui mừng.
Lấy ba vạn binh mã lui mười hai vạn cường địch, sau cùng còn một trận quét sạch Tây Lăng quấy nhiễu biên cảnh Trần quốc nhiều năm — kể từ ngày Trần quốc rút khỏi quan nội, chưa từng có đại thắng nào như thế.
Bóng đen sưu dịch vì chinh chiến liên miên đè nặng trên dân chúng nhiều năm cũng theo đó mà tan biến.
Khương Thái Hậu thân dẫn các quan viên lưu thủ Vương đình chờ nơi cổng thành. Nhìn dòng bách tính đông nghịt đứng đợi đại quân trở về, bà thoáng thất thần một khắc, nhìn về quan đạo xa xa chưa thấy bóng quân khải hoàn, khẽ nói:
“Vương đình… đã bao nhiêu năm rồi chưa náo nhiệt đến vậy?”
Lão ma ma theo hầu bên cạnh vừa định đáp lời, thì trên quan đạo phía trước đã xuất hiện bóng quân đội. Cờ hiệu ba doanh Lương, Trần, Tiêu phấp phới trong gió lạnh, nghiêm cẩn mà lẫm liệt.
Khương Thái Hậu cùng các quan viên tùy hành đều nghiêm sắc mặt hơn mấy phần. Còn dân chúng nơi cổng thành thì bùng nổ tiếng reo hò như sóng dậy:
“Đại quân khải hoàn rồi!”
“Công chúa hồi triều rồi!”
Tiếng hô lớp lớp chồng lên nhau. Nếu không sớm có quan binh canh giữ hai bên quan đạo, e rằng dân chúng đã tràn lên chặn hẳn đoàn xe.
Dẫu vậy, binh sĩ đứng hai bên vẫn bị xô đẩy đến suýt không trụ nổi.
Đại quân chậm rãi tiến vào. Khi xe giá dẫn đầu tới trước cổng thành, Thanh Vân Vệ vén màn xe, Ôn Du một thân đại tụ hoa phục, được Chiêu Bạch đỡ xuống xe ngựa. Tiếng hô của dân chúng càng lúc càng vang dội. Bách quan nơi cổng thành đồng loạt chắp tay khom người thật sâu:
“Cung nghênh công chúa khải hoàn hồi triều!”
Giữa biển người vây kín, nhất thời dường như bốn phía đều vọng lại tiếng vang.
Ôn Du vịn tay Chiêu Bạch bước xuống xe, đi đến trước mặt Tề Tư Mạo, tự mình đỡ ông đứng dậy:
“Thừa tướng mau đứng lên. Những ngày bản cung không ở Vương đình, đa tạ thừa tướng cùng Thái hậu thay bản cung lo liệu triều chính.”
Nói rồi, ánh mắt nàng đã chuyển sang Khương Thái Hậu.
Ánh nhìn ấy bình hòa, trẻ trung mà tĩnh lặng như biển sâu, song ẩn dưới lại là sóng dữ có thể dấy lên vạn trượng. Trong đôi mắt ấy, Khương Thái Hậu nhìn thấy chính mình — tóc mai đã lốm đốm bạc.
Thì ra, bà đã già đến vậy rồi.
Khi Tề Tư Mạo đứng dậy, nói một câu “Đó là bổn phận của thần”, Ôn Du cũng nâng tay áo ra hiệu cho các thần tử còn đang khom lạy đứng lên. Khương Thái Hậu thất thần một lát, rồi chậm rãi mở lời:
“Con ở Qua Lặc Thành chịu nhiều khổ sở. Nay thấy con khải hoàn, trong lòng ai gia cũng vô cùng vui mừng. Đường sá tất mệt nhọc, hãy hồi cung trước đi.”
Đoàn người lại tiếp tục lên đường. Dọc đường đều là tiếng dân chúng hô vang “Hạm Dương công chúa”.
Cho đến khi xe giá của Ôn Du tiến vào Trần Vương cung, dân chúng ngoài phố vẫn tụ lại thật lâu không chịu tan.
Tiếng bánh xe lăn trên cung đạo dài hẹp vang lên rất rõ. Khương Thái Hậu tựa lưng vào thành xe, nhìn màn xe lay động trong gió lạnh, qua khe hở thấp thoáng cành non ngoài tường cung vừa nhú lộc xanh. Những tiếng reo hò rung trời kia, qua mấy tầng cung môn, vẫn còn mơ hồ vọng lại.
“Nương nương?” Lão ma ma thấy bà nhìn ra ngoài qua khe rèm mãi không nói gì, khẽ gọi một tiếng.
Khương Thái Hậu chỉ khẽ thở dài:
“Xuân đến rồi… Vương đình trên dưới, đều như được thay da đổi thịt.”
Lão ma ma nghe mà mơ hồ, nhưng Thái hậu đã không nói thêm nữa.
Suốt quãng đường hồi cung, bà lặng lẽ nhớ lại nửa đời mình — từ ngày tuyển tú nhập cung, rồi trở thành Vương hậu, sau nữa là Thái hậu. Bỗng nhiên bà thấy những châu ngọc trên tóc dường như đã nặng đến mức khiến mình mỏi mệt.
—
Ôn Du trở về Chiêu Hoa cung thay xiêm y đơn giản, rồi sang Linh Tê cung. Được báo Khương Thái Hậu đang ở đình giữa hồ cho cá ăn.
Mùa đông Trần quốc kết thúc sớm. Gió tuy còn se lạnh, nhưng liễu ven hồ đã nhú mầm non xanh biếc.
Ôn Du cùng Chiêu Bạch bước vào đình, thấy Thái hậu ăn mặc giản dị, tay bốc từng nhúm thức ăn trong bát ngọc bích, rắc xuống hồ cho đám cá chép đỏ trắng đang tụ thành một khối, dường như chưa hề phát giác nàng đã đến.
Ôn Du nói:
“Ngày Chiêu Hoa cung sinh biến, đa tạ nương nương.”
Nàng nói đến lần Trần Vương xông vào Chiêu Hoa cung định hại A Ly.
Khi ấy chiến sự Qua Lặc Thành đang căng thẳng, Đồng Tước sợ Ôn Du giữa lúc đại địch áp sát lại còn phải lo lắng chuyện Vương đình, nên tạm thời chưa đề cập trong thư báo.
Sau này tin thắng trận từ Qua Lặc Thành truyền về Vương đình, tin Trần Vương băng hà cũng không cần giấu nữa, Thanh Vân Vệ lưu thủ tại Vương đình mới lập tức viết thư tường tận gửi cho Ôn Du.
Nghe vậy, bàn tay đang vê thức ăn cho cá của Khương Thái Hậu khựng lại.
Nỗi đau mất con rốt cuộc vẫn là một vết sẹo trong lòng bà. Huống hồ Trần Vương lại dùng cách quyết tuyệt ấy tự kết liễu ngay trước mặt bà.
Cơn phẫn nộ và cứng rắn ban đầu, tựa như mưa tuyết mùa đông của Vương đình, tan đi chỉ để lại những vệt nước hoen gỉ. Thế rồi từng sợi buồn bã chỉ xuất hiện trong những đêm khuya tỉnh giấc, dần dần theo vệt gỉ ấy mà thấm sâu, tích tụ theo tháng năm.
Rất lâu sau, Khương Thái Hậu mới nói:
“Ai gia cũng là vì Trần quốc.”
Bà lại thả vài hạt thức ăn xuống hồ:
“Con từng nói, đã thay ai gia tìm một nơi thanh tịnh lễ Phật. Nay con trở về, ai gia đã trao lại Vương đình cho con, ở trong cung này cũng thấy mệt rồi, muốn sớm đến Thiền Sơn hưởng chút thanh tịnh.”
Lão ma ma nghe vậy vội quỳ sụp xuống, nghẹn ngào:
“Nương nương…”
Ôn Du khẽ thở một hơi, cũng nói:
“Thái hậu nương nương không cần như vậy…”
Khương Thái Hậu vẫn tiếp tục cho cá ăn, nhưng chỉ đáp:
“Ai gia thực sự mệt rồi.”
Bà nghiêng đầu nhìn Ôn Du:
“Con thay ai gia sắp xếp đi.”
Lần này Ôn Du không từ chối.
Sau khi Ôn Du rời đi, lão ma ma phủ phục bên chân Khương Thái Hậu mà khóc:
“Nương nương, hà tất phải khổ như vậy…”
Khương Thái Hậu thả nốt chút thức ăn cuối cùng trong bát xuống hồ, nhìn về phía tường son ngói biếc của Trần Vương cung phía xa. Trong mắt bà ngoài mỏi mệt, chỉ còn lại vô tận thê lương:
“Ai gia ở nơi này, tiễn trượng phu, tiễn chất nhi, tiễn huynh đệ… cuối cùng là hài nhi.”
“Chỉ Phương à, ai gia mệt rồi. Vương đình cũ đã qua, ngươi và ta còn ở lại đây làm gì nữa?”
Lão ma ma thoáng chốc hiểu ra điều gì đó, tiếng nấc càng nghẹn.
—
Chiếu cáo quốc tang về việc Trần Vương băng hà đã ban từ trước khi Ôn Du hồi Vương đình. Nhưng toàn quốc đều chìm trong niềm vui đại thắng, nên quốc tang này ở dân gian không dấy lên được chút sóng gió nào.
Thậm chí vì những hành vi hoang đường của Trần Vương lúc sinh thời, lại thêm việc đến lúc chết vẫn còn muốn lấy máu thân sinh luyện chế trường sinh đan, khiến sử quan Trần quốc — vốn giỏi tô vẽ — cũng không biết đặt bút thế nào trong sách tang.
Sau cùng vẫn là Thái hậu — không biết vì con trai hay vì thể diện Trần quốc — truyền ý cho sử quan viết rằng Trần Vương vì lo lắng chiến sự biên cảnh mà thành bệnh, ho ra máu rồi qua đời.
Nhưng dân gian đều khịt mũi coi thường.
Danh tiếng hoang đường của Trần Vương đã truyền khắp nơi, lại thêm chuyện Tiêu Lệ vừa vây thành, hắn liền trói Ôn Du đem hiến hàng. Đứa trẻ ba tuổi ngoài phố cũng không tin Trần Vương vì ưu quốc mà chết.
Trong dân gian nhất thời xuất hiện đủ loại suy đoán về nguyên nhân thực sự cái chết của Trần Vương: có người nói hắn vì hoang dâm vô độ mà chết, có người nói vì dùng đan dược quá liều mà chết, thậm chí có kẻ bảo hắn bị mười hai vạn đại quân Tây Lăng ép sát biên cảnh mà sợ chết.
Những điều ấy Ôn Du đều không hay biết.
Để kịp sắp xếp thỏa đáng mọi việc của Trần quốc trước khi trở lại Lương địa, mấy ngày gần đây nàng bận rộn đến mức xoay vòng không nghỉ.
Khương Thái Hậu đã không còn muốn hỏi đến bất kỳ việc gì trong Trần Vương cung nữa. Trần Vương cũng đã chết, sau này đất Trần sẽ không còn Trần Vương mới, thậm chí Trần Vương cung có được giữ lại hay không cũng khó nói. Các phi tần trong cung đều cần được an trí thỏa đáng.
Ôn Du sai người đến từng nơi ở của các phi tần, theo đúng nguyện vọng của họ mà sắp xếp. Ai muốn xuất cung, nàng cấp cho khoản tiền hậu hĩnh để rời đi; ai không nơi nương tựa, liền an trí tại hành cung, chu cấp dưỡng lão.
Ngoài ra, nàng còn phải chọn một nhóm thần tử theo mình hồi Lương địa, đồng thời chọn những người đáng tin cậy ở lại Trần địa chủ trì đại cục.
Trong lư hương Bác Sơn, hương trầm cháy nghi ngút, khói tỏa như bảo cái, từng tầng từng tầng lan ra, khiến cả Ngự thư phòng chìm trong mùi trầm nhè nhẹ.
Ôn Du ngồi sau án, đã không biết là lần thứ mấy xoa ấn nơi thái dương đang âm ỉ đau.
Trước đó, lo Qua Lặc Thành không giữ được, khi để Đồng Tước đưa A Ly về Lương địa, nàng cũng đã chọn một nhóm quan viên Trần địa đi theo.
Không ngờ sau này lại sinh biến cố. Khi Nghiêm đảng làm loạn, một số thế gia và vương thân quý tộc từng do dự chưa đứng về phe nào liền nhân cơ hội chiếm chỗ của những quan viên ấy, kéo cả gia tộc dời sang Lương địa.
Dịch và biên tập bởi Mẹ Bông Bom!!!
Tề Tư Mạo vốn cũng nằm trong danh sách hồi Lương, nhưng vì ổn định đại cục Trần quốc nên tự nguyện ở lại.
Đầu đau thì đầu đau, nhưng kể từ sau biến cố ấy, từ dân gian cho đến quan lại trung hạ tầng trong triều, dường như đều đã hoàn toàn mất hy vọng với thế gia và vương thân Trần quốc. Vì thế khi Ôn Du hồi triều, tất cả đều xem nàng là chủ nhân thực sự của Trần quốc.
Từng quan viên Trần quốc được Ôn Du ghi tên trong danh sách lần lượt được triệu vào Ngự thư phòng. Sau khi được nàng hỏi chuyện, họ ra khỏi thư phòng, tay áo lau lệ — hoặc vì nỗi biệt ly, hoặc vì cảm kích tri ngộ.
Nhưng từ sau hôm nay, cả Trần quốc sẽ không còn “họ Trần” nữa, mà là “họ Ôn”.
Với tư cách thừa tướng, Tề Tư Mạo là người cuối cùng được triệu kiến.
Sau khi Lý thái giám truyền gọi, ông bước vào Ngự thư phòng, thấy Ôn Du đang cúi đầu đề bút, liền quỳ xuống hành lễ:
“Lão thần Tề Tư Mạo, bái kiến công chúa.”
“Thừa tướng không cần đa lễ.” Ôn Du đặt bút xuống, nhìn ông, nói:
“Hôm nay bản cung triệu thừa tướng đến, là muốn hỏi: khi trước vì nối dài quốc vận Trần quốc, thừa tướng từng nguyện sang Đại Lương. Nay cục diện đã định, bản cung vẫn muốn thỉnh thừa tướng cùng bản cung hồi Lương địa, tiếp tục phụ tá bản cung. Thừa tướng có nguyện ý chăng?”
Môi Tề Tư Mạo khẽ động mấy lần, cuối cùng chắp tay đáp:
“Được công chúa không chê, bộ xương già này của lão thần còn chưa đến lúc nhập thổ, nguyện vì công chúa mà tận lực. Chỉ là… lão thần có một điều mạo phạm, muốn hỏi công chúa.”
“Thừa tướng cứ nói.”
“Dám hỏi công chúa… với Bắc cảnh Tiêu doanh, sẽ giải quyết thế nào?”
Ôn Du nhìn vị lão thần đã ngoài năm mươi ấy, ánh mắt bình hòa, nhưng không hề có chỗ thương lượng:
“Đại Lương và Bắc cảnh Tiêu doanh sẽ liên hôn.”
Ôn Du và Tiêu Lệ đều không có tông tộc thân thích bên cạnh. Hai chữ “liên hôn” vừa nói ra, ý nghĩa đã không cần nói rõ.
Đây cũng là thượng sách để thiên hạ sớm quy về một mối.
Tề Tư Mạo hiểu rằng sau trận Qua Lặc Thành, Trần quốc đã không còn tư cách đòi hỏi điều gì nơi Ôn Du, nhưng vẫn khàn giọng hỏi:
“Vậy… tiểu quận chúa…”
Ôn Du đáp:
“A Ly sẽ được lập làm trữ quân, điều này không thay đổi.”
Tề Tư Mạo tự thấy hổ thẹn, cúi đầu lại bái:
“Lão thần… tạ công chúa.”
—
Ông cả đời vì dân Trần địa mà tận tâm, chút tư tâm duy nhất này, có thể nói là muốn cho vương thất Trần quốc ông phụng sự mấy chục năm một lời giao phó, cũng có thể nói là vì dân chúng hai địa mà lo tính.
Dẫu nàng tại vị khiến quần thần tin tưởng mình sẽ đối đãi công bằng, nhưng tương lai trữ quân thì sao?
Một triều thiên tử một triều thần, ắt có thân sơ.
“Xem sau. Uống thuốc trước.”
Ôn Du một khi bận rộn thì quên ăn là chuyện thường, huống hồ uống thuốc bồi bổ.
Là chủ tử, người dưới chỉ có thể khuyên can, vốn không làm gì được nàng. Nay có Tiêu Lệ trông chừng, Chiêu Bạch cùng Thanh Vân Vệ mới yên tâm hơn nhiều.
Không chỉ thuốc bổ sau mỗi bữa đều do hắn tự tay sắc mang đến ép nàng uống, mà thuốc đắp sáng tối cũng không bỏ sót.
Nhờ vậy, thân thể Ôn Du trước khi hồi Vương đình đã hồi phục được bảy tám phần.
Tâm trí nàng vẫn còn vướng nơi chính sự trong tấu chương, khẽ nhíu mày, tay vẫn ấn thái dương:
“Sắp xong rồi.”
Ngày thường thấy nàng nhíu mày, Thanh Vân Vệ không dám trái ý. Nhưng Tiêu Lệ trực tiếp gom hết tấu chương trên án sang một bên, rồi khoanh tay ngồi xuống ghế tròn, nhìn nàng nói hai chữ:
“Uống thuốc.”
Ôn Du đành gác ý tiếp tục phê duyệt, cầm chén thuốc trên bàn, nhắm mắt uống cạn trong mấy ngụm. Vị đắng từ đầu lưỡi lan xuống cổ họng, đắng đến tê dại, khiến khóe mắt nàng cũng vô thức ươn ướt.
Tiêu Lệ đã đưa sẵn hộp mơ chua ướp đường. Ôn Du ăn liền mấy quả mới miễn cưỡng át được vị đắng.
Không biết là do bệnh khỏi rồi vị giác nhạy hơn, hay vì Thái y sau khi bắt mạch đổi phương thuốc nên vị càng thêm cay đắng — nên giờ mỗi lần uống thuốc, với Ôn Du đều là một phen chịu tội.
Nàng lại vốn không ưa đồ ngọt, nên mỗi lần uống thuốc xong, cũng chỉ có thể nhai mấy quả mơ chua để át bớt vị đắng.
Mơ trong hộp đã hết, chân mày Ôn Du mới giãn ra đôi phần, nàng nói với Tiêu Lệ:
“Thân thể ta đã khá nhiều rồi, bảo Thái y ngừng thuốc này đi.”
“Lương dược khổ khẩu. Ta hỏi rồi, Thái y nói ít nhất còn phải uống thêm nửa tháng nữa mới được dừng.” Tiêu Lệ đáp gọn lỏn.
Chuyện điều dưỡng thân thể cho nàng, hắn trước nay luôn cứng rắn.
Trong mắt, Ôn Du còn vương hơi ẩm, đuôi mắt ửng đỏ vì phản ứng sinh lý. Nàng bỗng ngoắc tay ra hiệu hắn lại gần.
Trong lòng Tiêu Lệ tuy có chút đề phòng, nhưng thân thể vẫn không tự chủ được mà cúi xuống.
Ôn Du vòng tay qua cổ hắn, hôn lên môi hắn, giữa môi răng cố ý đem vị thuốc còn đọng trong miệng truyền hết sang cho hắn.
Trò nghịch ngợm vừa thành, nàng buông tay định lui ra, không ngờ sau gáy đã bị một bàn tay lớn giữ chặt, kéo mạnh xuống.
Môi nàng lại bị ép vào môi hắn, lực đạo không cho nàng chút cơ hội tránh né.
Chưa kịp phản ứng, hơi thở đã bị đoạt sạch.
Hắn càn quét, truy đuổi, nuốt trọn.
Vị thuốc đắng vẫn còn quẩn quanh giữa môi răng, trong làn khói trầm từ lư hương Bác Sơn lan tỏa, lại thêm một tầng nóng bỏng, bức bách khác.
Ôn Du thở không ra hơi, trong cơn hỗn loạn chỉ cảm thấy mình bị bế lên đặt ngồi trên trường án. Cuối bàn vang lên tiếng tấu chương bị quét rơi xuống đất. Tiêu Lệ vẫn giữ cằm nàng mà hôn sâu, nuốt sạch cả tia đắng cuối cùng nơi môi lưỡi nàng.
Nàng không kịp thở, chỉ có thể vô thức nắm chặt vạt áo trên vai hắn.
Nụ hôn nóng bỏng men theo cổ nàng mà hạ xuống. Răng khẽ cắn mở vạt áo, lộ ra một mảng vai trắng ngần, trên đó còn lác đác dấu vết đậm nhạt khác nhau.
Giữa những nụ hôn dồn dập ấy, Ôn Du miễn cưỡng kéo lại chút lý trí, đưa tay chặn hắn.
Hơi thở Tiêu Lệ đã trầm nặng, khi ngẩng lên nhìn nàng, ánh mắt vẫn còn tỉnh táo, song tròng trắng đã ửng đỏ.
Ôn Du thở gấp nói:
“Ta còn truyền gọi Trần Nguy… người đang đợi ở Khải Ninh điện.”
Nàng nói rồi định nhảy xuống khỏi án, lại bị giữ chặt nơi eo.
Tiêu Lệ chống tay hai bên trường án, dễ dàng giam nàng giữa lồng ngực và cánh tay mình. Gương mặt tuấn tú góc cạnh, đuôi mắt đỏ rực, hàng mi đen rủ xuống che nửa ánh nhìn, hắn nói:
“Là nàng khơi mào.”
Ôn Du ngẩng lên nhìn hắn, hơi thở quấn quýt trong khoảng cách gang tấc, hỏi khẽ:
“Vậy phải làm sao đây?”
Trong mắt nàng có ý cười, cũng có chút vô tội.
Tiêu Lệ nhìn nàng, yết hầu khẽ chuyển động, cúi đầu tiếp tục hôn.
Trên án lại có thêm mấy bản tấu bị đẩy rơi. Những lời chưa kịp nói đều tan vào trong nụ hôn.
—
Khi Trần Nguy được truyền gọi đến Ngự thư phòng, đúng lúc Tiêu Lệ bưng bát thuốc rỗng bước ra.
Ông dừng lại, gọi một tiếng: “Tiêu quân.”
Tiêu Lệ gật đầu, tiếp tục rời đi. Cổ áo sẫm màu vừa đủ che đi dấu răng mới hằn nơi cổ.
Trần Nguy hoàn toàn không để ý, bước vào thấy Ôn Du một tay chống nơi cổ, tựa hồ hơi mệt mỏi ngồi sau án, đuôi mắt còn ửng đỏ. Nghĩ đến Tiêu Lệ vừa bưng thuốc ra ngoài, ông cho rằng nàng gần đây lao lực quá độ, thân thể lại có chút không khỏe.
Trước kia ở biên quan, Ôn Du đã hao tổn đến mức nào, ông đều tận mắt chứng kiến.
Nhất thời trong lòng Trần Nguy trăm mối cảm xúc, cúi đầu chắp tay:
“Vi thần… tham kiến công chúa.”
Ôn Du ngón tay vẫn đặt trên tấu chương quyết định đi hay ở của ông, ngẩng lên nói:
“Trần đại nhân đã đến.”
Trần Nguy cung kính đứng phía dưới, chờ nàng tiếp lời.
“Việc Trần địa đã xong, bản cung sắp sửa hồi Đại Lương. Chỉ là Tây Lăng và các bộ Đại Mạc tuy đã giảng hòa, nhưng phòng vạn nhất, vẫn cần một đại tướng bản cung tin cậy trấn giữ nơi này. Bản cung muốn an bài đại nhân ở lại Trần địa, ý đại nhân thế nào?”
Ý thức được lời của Ôn Du là gì, Trần Nguy thoáng chốc quỳ sụp xuống:
“Vi thần… không sao kể xiết nỗi kinh sợ cùng cảm kích. Nhưng vi thần… sao dám gánh vác trọng trách ấy?”
Ôn Du nói:
“Đại nhân chớ tự xem thường mình. Khi phụ hoàng còn tại thế, người vẫn luôn tán thưởng đại nhân. Ba năm Bùi tặc làm loạn đất Lương, đại nhân chống đỡ Bình Châu cùng toàn bộ Nam cảnh, cũng xứng đáng một câu lao khổ công cao. Nay ngàn dặm gấp gáp đến Nam Trần cứu giá, lại có công bình định Tây Lăng, ngoài đại nhân ra, không còn ai thích hợp hơn nữa. Chỉ khi đại nhân thay bản cung giữ vững đất Trần, bản cung ở Lương địa mới có thể yên tâm.”
Trần Nguy nghe xong lời ấy, vành mắt đã đỏ hoe. Biết không thể thoái thác thêm, liền chắp tay hướng Ôn Du hành lễ:
“Thần… Trần Nguy, nguyện thay chủ thượng tử thủ cương thổ, quyết không phụ mệnh!”
Đến khi lui xuống, nghĩ tới từ nay núi non trùng điệp cách trở, quân thần e rằng khó còn ngày tái ngộ, rốt cuộc không nén được lệ rơi. Ông lại cúi mình bái một bái:
“Chỉ mong công chúa hồi Lương địa cũng vạn phần trân trọng!”
Nói xong, dường như sợ ở trước mặt Ôn Du càng thêm thất thố, bèn giống như những thần tử lúc trước, lấy tay áo lau mắt, vội vã lui ra ngoài.
Ôn Du đưa tay che nơi cổ bên đã bị Tiêu Lệ cắn lưu lại dấu răng, chợt hiểu rằng Trần Nguy e là đã hiểu lầm điều gì đó.
Nhưng lần biệt ly này, Nam Bắc vạn dặm xa xôi, quân thần tái kiến quả thực không biết đến bao giờ.
Trong lòng nàng trăm mối tơ vò, nhìn theo bóng Trần Nguy bước xuống những bậc đá trước ngự thư phòng, khẽ khàng thốt một câu:
“Chư khanh cũng hãy bảo trọng.”