Khi vương đình treo lên những chiếc lồng đèn đón năm mới, Cố Hề Vân đã dẫn binh quay trở lại đất Lương.
Ôn Du cho Chiêu Bạch theo nàng về Đại Lương.
Sau khi Tiêu Lệ chỉnh đốn lại Bắc Ngụy, uy danh từng đánh thẳng vào bụng man di lan xa, khiến biên cảnh phía bắc yên ổn hơn trước rất nhiều.
Hai bên đều có chiến sự kiềm chế lẫn nhau, tuy ngoài mặt chưa từng kết minh, nhưng trong lòng đều ngầm hiểu, trước hết hợp lực thảo phạt Bùi Tụng.
Bùi Tụng liên tiếp đánh mất mấy châu, lui hết lần này đến lần khác. Đường rút về phía tây lại bị Ôn Du chặn trước, nay chỉ có thể cố thủ mấy thành quanh Lạc Đô, thế như hơi tàn.
Ôn Du phái Chiêu Bạch đích thân đi, chính là muốn nàng nhân loạn cứu Giang Nghi Sơ cùng nữ nhi trở về.
Người khác nàng có lẽ còn chưa yên tâm, nhưng Chiêu Bạch vốn là người huynh trưởng từng điều đến bên cạnh tẩu tẩu. Trên đời này, ngoài nàng ra, chỉ có Chiêu Bạch là kẻ quan tâm an nguy mẫu tử Giang Nghi Sơ nhất.
…
Đại Lương, Lạc Đô.
Liên tiếp mấy trận bại, sĩ khí toàn bộ Bùi doanh sa sút đến cực điểm.
Đường rút về tây bị Lương doanh chặn đứng; chạy về đông, các châu quận dọc đường đã bị cướp sạch, quân đội căn bản không có tiếp tế. Nếu trốn tới tận Kỳ Lĩnh phía đông, ẩn vào núi sâu, giữa trời giá buốt này, trên núi nước chảy cũng hóa băng, không biết lại phải chết rét bao nhiêu binh sĩ.
Hiện giờ mấy vạn quân Bùi còn lại chỉ có thể co cụm giữ Lạc Đô, tạm lấy mấy thành phụ cận làm bình chướng.
Trong noãn đường, các tướng tụ họp nghị sự, ai nấy nín thở, sợ kẻ đứng trên án nhìn bản đồ là Bùi Tụng bất chợt nổi giận.
Nhưng hôm nay Bùi Tụng lại hiếm hoi ôn hòa. Tình thế đã khẩn cấp như vậy, hắn lại chẳng hề táo bạo. Xem xong dư đồ, thấy chư tướng câu nệ, còn mỉm cười hỏi:
“Chư vị sao thế?”
Không ai dám đáp.
“Chẳng lẽ vì một đám ô hợp vây Lạc Đô, mà tự loạn trận cước, mất hết uy phong?”
Hắn thong thả bước xuống bậc:
“Một lũ ruồi nhặng chó má như vậy, lại khiến chư vị sợ hãi?”
Hắn đưa tay đặt lên vai một tướng dưới bậc:
“Mã tướng quân.”
Vị tướng kia lộ vẻ thấp thỏm. Bùi Tụng không nhìn hắn, chỉ quét mắt qua chư tướng, đọc chiến công:
“Trận phá Bạch Mã Quan, tướng quân chém mấy danh tướng Tiền Lương, công tích lẫy lừng, đến nay vẫn truyền tụng trong quân.”
Người kia lộ vẻ xấu hổ, miễn cưỡng gật đầu.
Bùi Tụng cười nhạt, thu tay lại, tiếp tục bước xuống:
“Âu Dương tướng quân, trận công Lạc Đô, trực tiếp lấy thủ cấp đệ nhất binh gia Tiền Lương là Cố Trường Phong.”
Vị tướng râu mép được gọi tên, mặt cũng lộ vẻ thẹn, song đành gượng cười đáp lời.
“Lý tướng quân…”
…
Trên thành Lạc Đô.
Cờ xích phấp phới trong gió lạnh.
Cố Hề Vân co một chân ngồi trên lỗ châu mai. Tuyết bay vào mắt, nàng khẽ nheo lại, nói:
“Huynh trưởng ta… là bị hao chết.”
Chiêu Bạch ôm kiếm đứng phía sau, lặng im.
Cố Hề Vân nhìn về phía Lạc Đô, cổ tay quấn một vòng tua đỏ:
“Vương gia và Thế tử dẫn quần thần cùng bách tính rút về Phụng Dương. Huynh trưởng ít nhất phải tử thủ Lạc Đô ba ngày, mới tranh được đủ thời gian cho họ.”
“Ba ngày. Bùi Tụng dùng xa luân chiến công thành. Huynh trưởng dẫn hai nghìn Cố gia quân còn lại, không ngủ không nghỉ giữ thành đến sáng ngày thứ hai, trong thành đã chẳng còn một mũi tên.”
“Hắn mở cổng xuất thành, chém giết, gắng gượng giữ thêm nửa ngày.”
“Bên Bùi Tụng nói tướng mãnh dưới trướng hắn trực tiếp chém đầu huynh trưởng ta. Ta biết đó là lời dối trá.”
“Trên người huynh trưởng chi chít lỗ tên, cả thân như cái sàng. Rõ ràng là vạn tiễn xuyên tâm mà chết!”
Dẫu đã hơn hai năm, Cố Hề Vân nhớ lại thảm trạng thi thể Cố Trường Phong được tìm về, vẫn không kìm được vành mắt đỏ lên.
Nàng đón gió lạnh, hít sâu luồng không khí rét buốt mà trong trẻo của mùa đông. Bi phẫn trong mắt dần hóa thành chiến ý sắc bén giữa gió tuyết:
“Thù của a huynh, ta nhất định đòi lại!”
…
Nội thất Bùi phủ.
Việc động viên chư tướng không đạt hiệu quả như Bùi Tụng dự liệu.
Đợi giải tán mọi người, sắc mặt hắn mới trầm xuống.
Vì trên đường về nhiễm gió lạnh, vừa bước vào phòng đã không ngừng ho khan.
“Chủ tử.”
Bùi Tụng nhận lấy, một tay che miệng ho, ngồi xuống, thần sắc âm u:
“Hàn Kỳ đâu? Hai ngày nay sao không thấy hắn?”
Bùi Nguyên đáp:
“Hàn tiểu tướng quân mấy hôm nay thường lui tới văn khố Hình bộ, dường như đang tra xét chuyện gì.”
Trong mắt Bùi Tụng thoáng lóe lên tia sắc lạnh. Hắn đặt lò sưởi xuống:
“Theo ta đi xem.”
Hai năm trước, khi Trường Liêm Vương dẫn quần thần Lạc Đô rút khỏi thành, lục bộ nha thự đã bỏ trống.
Sau khi Bùi Tụng nhập chủ Lạc Đô, lại bận chinh chiến tứ phương, thuộc hạ chỉ lo vét sạch ngân khố, còn văn thư sổ sách gom lại thì coi như giấy vụn.
Hàn Kỳ tốn không ít thời gian, mới dọn ra được một góc nhỏ trong văn khố đã hai năm không ai ngó ngàng, mạng nhện chằng chịt, bụi phủ dày.
Vì một phần kho từng bị binh lính lục soát, nên có quyển bị hư hại, có quyển vứt bừa bãi khắp nơi.
Hắn tìm suốt mấy ngày, mới lục được phần hồ sơ từng được người của vương phủ Trường Liêm Vương chỉnh lý lại — chính là những quyển khi giao chiến với Phạm Viễn ở Cẩm Thành từng nhắc tới.
Xem từng quyển một, lòng hắn chấn động dữ dội. Đang định mang đi, ngoài cửa văn khố bỗng vang lên một giọng u lãnh:
“Ngươi ở đây làm gì?”
Hàn Kỳ giật mình, quay đầu lại, chỉ thấy Bùi Tụng khoanh tay tựa cửa, khóe môi mỉm cười nhàn nhạt, không biết đã đứng ngoài bao lâu.
Hắn vô thức muốn giấu quyển hồ sơ ra sau lưng, nhưng biết làm vậy chỉ càng lộ liễu, mặt lúc trắng lúc đỏ, lúng túng gọi:
“Tư Đồ…”
Bùi Tụng bước vào, cười nói:
“Không phải đã bảo rồi sao, riêng tư chỉ xưng huynh đệ?”
Bùi Nguyên theo sau, bước vào khiến gian phòng vốn chật hẹp càng thêm ngột ngạt.
Hàn Kỳ nghe lời, khẽ gọi:
“Ca.”
Thần sắc lại càng thêm xấu hổ.
Bùi Tụng liếc nhìn quanh văn khố, không rõ vui giận:
“Nơi này bảo tồn cũng không tệ, tiếc là chưa rảnh tay thu xếp lại.”
Ánh mắt hắn dừng ở quyển hồ sơ trong tay Hàn Kỳ:
“Cầm gì đó?”
Giọng điệu thậm chí có thể gọi là ôn hòa, nhưng Hàn Kỳ lại cảm thấy như bị roi lạnh quất thẳng vào người.
Hắn mím môi:
“Là… hồ sơ.”
Bùi Tụng không hỏi nội dung — hắn đoán cũng đủ biết — chỉ dời mắt nhìn những kệ sách, khóe môi hơi cong, mang chút mỉa mai:
“Sao đột nhiên lại xem những thứ này?”
Hàn Kỳ tuổi trẻ khí thịnh, rốt cuộc chịu không nổi kiểu đối thoại ấy. Bị dồn đến cùng cực, hắn chọn nói thẳng:
“Hôm ở Cẩm Thành giao chiến với Phạm Viễn, hắn nói Trường Liêm Vương vẫn âm thầm sai người chỉnh lý lại hồ sơ những đại thần bị liên lụy oan trong vụ án Tần bá phụ năm xưa… Ta… ta chỉ muốn xem lời hắn là thật hay giả…”
Bùi Tụng cười nhạt:
“Giờ ngươi đã thấy, thế nào?”
Khi xưa Bùi Tụng ẩn nhẫn bên cạnh Ngao Thái úy, Hàn Kỳ còn nhỏ dại, được hắn che chở, ngoài luyện võ ra chẳng biết gì về triều cục.
Nhưng hắn không ngu.
Bùi Tụng về sau được Ngao Thái úy trọng dụng, nắm quyền đến mức này, tất nhiên biết rõ phụ tử Trường Liêm Vương năm ấy đã làm gì trong triều.
Chỉ là hắn vẫn chọn đánh vào Lạc Đô, lật đổ Tiền Lương.
Hàn Kỳ biết Bùi Tụng hận Tiền Lương.
Nhưng đến nay, nợ cũ đã trả.
Người cần giết đã giết; thù cần báo cũng đã báo.
Các lộ binh mã nay đều vây giết Bùi Tụng. So với tiếp tục đi đến đường cùng, Hàn Kỳ muốn vì hắn mà tranh một con đường sống duy nhất — khuyên hắn quay đầu.
Hắn siết chặt quyển hồ sơ, cuối cùng lấy hết can đảm:
“Ca, chúng ta đánh vào Lạc Đô, lật đổ Tiền Lương là vì báo thù. Nhưng mạch Trường Liêm Vương… cũng không phải như những kẻ họ Ôn khác, toàn hạng giả nhân giả nghĩa…”
“Rồi sao?”
Như thấy một tia hy vọng, Hàn Kỳ vội nói:
“Thù đã báo rồi. Chúng ta… chúng ta đi cầu hòa với Hạm Dương công chúa đi! Cứ nói… lúc đánh vào Lạc Đô, chúng ta cũng không biết Trường Liêm Vương vốn định giúp chúng ta lật lại án xưa. Hạm Dương công chúa vốn có hiền danh, nói rõ đầu đuôi, lại có án oan của Tần bá phụ ở trước, vì tránh sinh linh đồ thán, biết đâu nàng cũng chịu dừng binh…”
Bùi Tụng đưa năm ngón tay day trán, bật cười khẽ:
“Ngươi nói, ta giết sạch Ôn thị, khiến mạch Trường Liêm Vương chỉ còn lại mình nàng, giờ lại đi cầu nàng ngừng chiến, tha cho ta một con đường sống?”
Hắn cười đến cong cả đuôi mắt:
“A Kỳ, ngươi sẽ tha cho kẻ giết sạch cả nhà mình sao?”
Hàn Kỳ nghẹn lời.
Hắn cũng biết mình ngây thơ. Nhưng khi đã biết mạch Trường Liêm Vương không phải tội ác ngập trời như hắn từng nghĩ, hắn không thể tiếp tục tự lừa mình rằng cuộc chiến họ khơi lên là chính nghĩa, rằng Tiền Lương vô đạo nên họ mới thay thế, rằng Đại Lương đang liều chết chống lại họ chỉ là dư nghiệt cũ.
Một bên là nghĩa lý.
Một bên là Bùi Tụng — người như huynh như phụ nuôi hắn lớn.
Hàn Kỳ hít sâu mấy hơi, mắt đỏ hoe:
“Ta đi cầu nàng! Ta đi cầu Hạm Dương! Là hoàng đế Đại Lương năm xưa làm sai trước!”
Hắn nghiến răng:
“Nếu nàng muốn mạng đền mạng, thì mấy trăm mạng người trong hai nhà Hàn, Tần năm ấy bị tịch thu, cũng đủ bù cho mạng người mạch Trường Liêm Vương rồi!”
Một bàn tay lớn đặt lên lưng hắn.
Những lời phía sau hóa thành nghẹn ngào. Nước mắt nóng rơi xuống vai Bùi Tụng.
Bùi Tụng ôm lấy thiếu niên mình coi như thân đệ ấy trong thoáng chốc, trên mặt vẫn mang ý cười, giọng điệu thản nhiên:
“Nói chuyện trẻ con gì vậy?”
“Hay là A Kỳ ngươi cũng sợ, cho rằng ca không thắng nổi trận này?”
Hàn Kỳ vội lau nước mắt:
“Ta tin ca sẽ thắng!”
Ngoài phòng chỉ còn tiếng tuyết rơi xào xạc.
Bùi Tụng nói:
“Vậy thì thắng.”
“Muốn làm hoàng đế, muốn đoạt thiên hạ, còn cần lý do gì nữa?”
Ba phương binh mã đồng thời xuất binh công đánh mấy tòa thành làm bình chướng ngoài Lạc Đô, vào một ngày đông trời quang.
Băng nhọn dưới mái thành lặng lẽ tan ra trong nắng, giọt nước rơi xuống gạch xanh loang thành vệt ướt. Quân ủng đen dồn dập giẫm qua. Trên tường thành, cung tiễn ken dày, ánh thép lạnh bù thêm cái rét lẽo của buổi chiều không gió.
Hai bên hầu như chẳng buông lời khiêu chiến. Thanh danh Bùi doanh vốn đã thối nát trong dân gian, dường như cũng chẳng cần mắng thêm điều gì.
Chiến cổ dậy lên. Khi tiên phong quân hò hét xông về phía thành lâu lần thứ nhất, trận chiến chính thức khai màn.
Tên từ trên thành trút xuống như mưa. Binh sĩ Lương doanh lấy cự thuẫn mở đường, phía trên cũng chồng kín đại thuẫn, mưa tên của Bùi quân không gây được bao nhiêu thương vong.
Máy bắn đá không ngừng ném cự thạch, nhưng số lượng hữu hạn, phạm vi công kích không dày đặc như tiễn trận.
Thấy tiên phong quân sắp áp sát chân thành, chuẩn bị công môn hoặc dựng vân thê trèo lên, thủ tướng trong thành bất đắc dĩ mở cổng, phái một đội quân nghênh chiến, ý đồ kéo chân Lương quân bên dưới.
Hàn Kỳ cùng vị tướng họ kép Âu Dương của Bùi doanh thúc ngựa ra khỏi thành, tự xưng danh tính hòng chấn nhiếp đối phương.
Ngoài việc Tiêu Lệ từng ở Tứ Thủy thành tàn sát hai vạn Bùi tốt khiến Bùi doanh ai nấy đều xem hắn là sát thần, còn lại phần lớn vẫn quen xưng danh để uy h**p. Dẫu sao Bùi doanh vốn hung tàn, lại từng giết không ít danh tướng Đại Lương.
Hôm nay phía nam Lạc Đô do Cố Hề Vân cùng Phạm Viễn phụ trách công đánh; phía tây do Trần Nguy giữ; phía bắc là Tiêu Lệ chủ công.
Nghe tên tướng râu mép họ Âu Dương kia tự báo gia môn, bàn tay siết trường thương của Cố Hề Vân càng lúc càng chặt, sát ý trong mắt gần như đông thành thực chất. Nàng nói với Phạm Viễn:
“Ta đi gặp hắn!”
Phạm Viễn còn tưởng nàng sẽ tìm Hàn Kỳ để tính nợ cũ, thấy nàng nhằm thẳng vị tướng họ Âu Dương kia, liền nhớ đến cái chết của Cố Trường Phong, vừa một đao quật ngã một Bùi tốt vừa quát lớn:
“Nha đầu! Chớ có hành sự vì ý khí!”
Cố Hề Vân không đáp, chỉ dùng trường thương quét ngang dọc, hất văng từng tên Bùi tốt. Tua đỏ quấn nơi cổ tay tung bay giữa gió, như một đốm lửa bừng lên.
Hàn Kỳ thấy nàng nhằm thẳng vị Bùi tướng kia, trong lòng liền thấy bất ổn.
Hắn từng giao thủ với nàng, biết thương pháp bá đạo của nữ tướng Lương doanh này. Lập tức thúc ngựa đuổi theo, quát:
“Cố gia thương của ngươi cũng chỉ đến thế thôi sao? Sợ rồi à? Thấy tiểu gia mà không dám giao phong?”
Tóc buộc cao và áo choàng của Cố Hề Vân tung lên trong gió rét. Thần sắc nàng lạnh như băng, hoàn toàn không dao động.
Hàn Kỳ thấy khích tướng vô hiệu, nghiến răng thúc ngựa đuổi tiếp, nhưng từ phía xiên bỗng bổ xuống một thanh yển nguyệt đại đao.
Phạm Viễn chặn lại, cười lớn:
Dịch và biên tập bởi Mẹ Bông Bom!!!
“Tiểu tử chạy đi đâu? Trận ở Cẩm Thành lần trước còn chưa phân thắng bại với Viễn gia ta! Lại đây so tiếp!”
Hàn Kỳ biết Phạm Viễn khó nhằn, một khi quấn vào tất khó thoát thân. Muốn rút lui, lại luôn bị chặn đường. Hắn tức giận đến đỏ mặt, một thương gạt đao Phạm Viễn, quát:
“Tiểu gia trước hết phải tranh cái danh thương gia đệ nhất với Cố gia nữ tướng kia đã!”
Phạm Viễn chỉ cười nhạt:
“Nếu Cố Trường Phong còn sống, đến lượt ngươi tranh cái gì đệ nhất? Đệ nhất tướng trẻ của Đại Lương chết dưới tay một tên vô danh tiểu tốt của Bùi Tụng, lão tử còn thấy nghẹn thay Cố gia. Các ngươi chà đạp danh tiếng thế gia trâm anh của họ Cố xuống bùn thế nào, hôm nay nàng sẽ đòi lại từng chút một!”
Hàn Kỳ vì câu ấy mà phân thần, suýt bị một đao quật khỏi ngựa, vội hoành thương đỡ đòn. Trong mắt thoáng hiện vẻ động dung cùng khó xử.
Hắn muốn phục hưng Hàn gia thương pháp, tự nhiên hiểu được quyết tâm của Cố Hề Vân — tự tay báo thù cho huynh trưởng, khôi phục thanh danh Cố thị.
Bị Phạm Viễn quấn chặt, hắn đành bỏ ý định tiếp ứng, dồn hết bức bối trong lòng vào từng chiêu thương đao giao kích.
Cố Hề Vân nhất mực một đường truy sát vị Bùi tướng kia.
Tên ấy đang vung đao chém một Lương tốt, bị nàng một thương cứu xuống.
Hắn hiển nhiên cũng biết Lương doanh có nữ tướng này.
Nhưng đối diện nữ lưu, bản năng vẫn mang vài phần khinh thị, cười lớn:
“Ta còn tưởng ai, hóa ra là Cố gia hết sạch nam nhi, phải để nha đầu mặc giáp ra trận! Huynh trưởng ngươi lúc chết dưới đao bản tướng, suýt nữa sợ đến tè dầm…”
Mắt Cố Hề Vân đỏ rực, quát lớn một tiếng, thúc ngựa xông tới.
Đao thương vừa chạm, cả người lẫn ngựa tên Bùi tướng kia lùi liền mấy bước. Hắn biến sắc, không dám giao thủ thêm, quay ngựa bỏ chạy.
Cố Hề Vân gầm lên:
“Chạy đâu!”
Nàng thúc ngựa truy kích. Có ưng khuyển Bùi thị thấy tình thế bất lợi, liền phóng lãnh tiễn trên chiến trường. Nàng dùng trường thương gạt phần lớn, nhưng vai phải vẫn trúng một mũi.
Nàng không hề dừng lại, đổi tay cầm thương, tiếp tục truy sát.
Tên Bùi tướng kia thấy nàng vai phải bị thương, tưởng gặp thời cơ chuyển bại thành thắng, bèn quay ngựa, vung đao quát:
“Ngươi đã tìm chết, lão tử trói ngươi mang về doanh, thưởng cho ba quân khoái lạc, tăng sĩ khí!”
Mắt mày Cố Hề Vân sắc như lưỡi đao.
Trường thương nàng dùng tay trái quật ngược ra sau, mũi thương dính đầy máu đặc, nhuộm ướt cả tua đỏ.
Nàng nhìn thi thể lạnh giọng:
“Chết dưới hồi mã thương của Cố gia ta, quả là nâng đỡ cho ngươi.”
Bùi quân mất một viên đại tướng, chiến trường lập tức đại loạn. Lương tốt sĩ khí tăng vọt, hò hét xông lên.
Trên trán Cố Hề Vân rịn mồ hôi lạnh. Trong ánh trời nhạt nhòa, nàng giơ cánh tay phải buộc tua đỏ lên.
—— Tua đỏ ấy nàng tháo từ thương của huynh trưởng, giờ đã bị máu từ chính vết thương của nàng thấm ướt, kết thành một khối đỏ sẫm.
Chỉ liếc vội một cái, Cố Hề Vân lại nâng trường thương, gầm lên lao thẳng vào trùng vây.
Cái chết của viên Bùi tướng kia khiến Lương quân nhanh chóng chiếm thế thượng phong.
Hàn Kỳ thấy tình thế bất lợi, muốn nhân cơ hội rút về thành, nhưng Phạm Viễn quấn chặt không buông, vừa đánh vừa quát:
“Tiểu tử ngươi đúng là ngoan cố! Lão tử đã sớm nói với ngươi, Bùi Tụng là gian tặc, tuyệt chẳng phải hạng lương thiện! Hàn gia các ngươi đời đời trung liệt, nay thật muốn tự tay làm hoen ố môn phong?”
Hàn Kỳ dốc sức gạt đao, hất văng lưỡi đao đang ghì lên thân thương của mình. Hắn đỏ mắt như thú dữ bị dồn đến đường cùng, phát cuồng công kích:
“Đời đời trung liệt thì đáng bị tịch thu gia sản, hạ ngục diệt tộc sao? Còn phải quỳ lạy hoàng thất mà ngu trung cảm tạ ư? Hàn gia ta đã làm sai điều gì? Chúng ta chỉ muốn một chữ công đạo!”
Phạm Viễn vừa chống đỡ vừa mắng:
“Phi! Ngụy biện cẩu thả! Các ngươi đòi công đạo thì phải đồ sát cả Lạc Đô? Văn võ bá quan đều hại Hàn gia các ngươi? Hay là dân thường chết oan trong loạn chiến đã hại Hàn gia?”
Hàn Kỳ đánh đến lúc này đã kiệt sức, th* d*c từng hồi. Như thể trong lòng hắn có một ải không vượt nổi, nhưng vẫn cố ép mình tin vào con đường đã chọn:
“Hàn gia ta đã chết sạch! Ta quản thiên hạ có ai thù ta hay không? Kẻ cản đường ta — đều đáng chết!”
Phạm Viễn lạnh hẳn ánh mắt:
“Danh hiệu Hàn Tông Nghiệp phụ thân ngươi ta từng nghe qua. Hàn gia các ngươi bị oan, ta cũng đã nói tiên hoàng từ cuối niên Trinh Vũ đã bắt tay lật lại án cũ. Công chúa nay cũng sẽ nối chí tiên hoàng. Nhưng ngươi vẫn khăng khăng đi đến bước này — hôm nay ta chém ngươi tại đây, cũng không oan!”
Hàn Kỳ nhe răng cười, mồ hôi trượt qua mi mắt. Hắn thúc ngựa xông tới, như cầu chết mà quát:
“Vậy thì chém ta đi!”
…
Mặt trời xế bóng, bóng ngói đổ loang lổ trên thành bắc Lạc Đô.
Bùi Tụng khoác đại chưởng đứng nơi lỗ châu mai, từ trên cao nhìn xuống người cưỡi ngựa trước trận hắc giáp quân phía dưới.
Đây là lần đầu tiên hai người thực sự đối diện nơi trận tiền.
Ấn tượng của Bùi Tụng về Tiêu Lệ vẫn dừng ở đêm trăng ấy — lưỡi đao bổ vỡ xe ngựa, chém thẳng đến trước mặt hắn, cùng đôi mắt đỏ ngầu hận ý, hung lệ như sói.
Chỉ hơn một năm không gặp, đối phương đã thành tân chủ đất bắc.
Bùi Tụng không thể không thừa nhận — kẻ kia trưởng thành nhanh hơn hắn tưởng rất nhiều.
Hai năm trước, đứng trên thành đối diện hắn còn là Ngụy Kỳ Sơn.
Chỉ tiếc anh hùng ấy chưa đầy một năm đã hóa cổ nhân.
Người trước mắt này không có uy thế và mưu sâu tích lũy mấy chục năm như Ngụy Kỳ Sơn, nhưng cảm giác khi lần đầu chính diện, lại khiến Bùi Tụng cực kỳ khó chịu.
Lão lang vương biết cân nhắc thiệt hơn vì hiểu thực lực ngang nhau, mỗi bước đều tính kỹ.
Bùi Tụng cũng giỏi điều khiển lòng người, xoay chuyển thế cục chỉ bằng một sợi tóc.
Vì thế những lần giao thủ với Bắc Ngụy trước đây vẫn coi như ngang tài ngang sức.
Thắng bại nhất thời, hắn không sợ — bởi luôn có thể tìm ra nhược điểm đối phương, phản kích trở lại.
Nhưng vị tân chủ đất bắc này…
Trong mắt đối phương, hắn chỉ thấy chiến ý đậm đặc đến gần như hữu hình.
Không phải thanh kiếm giấu mũi, cũng chẳng phải lưỡi đao đã rút.
Mà là cột trụ chống trời sau khi lớp đất đá bên ngoài rạn nứt — tr*n tr**, thô ráp, sinh ra giữa trời đất.
Bao nhiêu âm mưu quỷ kế, đều có thể bị nghiền nát dưới sức mạnh ấy.
Cha con Du Tri Viễn là hiếm hoi dưới trướng hắn còn có thể trọng dụng. Những bước đi của Du Tri Viễn khi tiềm phục Bắc Ngụy, hắn tự hỏi chẳng có sai sót gì.
Nhưng họ vẫn chết — mà chết vô cùng thảm liệt.
Rất lâu sau hắn mới hiểu, khi Du Tri Viễn quyết định hãm hại Tiêu Lệ, cơ hội duy nhất chính là đêm đó giết được hắn.
Không giết được, chỉ còn chờ con sói dữ phản phệ.
Ngay khoảnh khắc này, Bùi Tụng chợt đặc biệt căm ghét đất Ung Châu.
Hắn chiếm Lạc Đô, hạ Phụng Dương, lẽ ra phải một mạch tiến lên. Nhưng những thiệt hại đầu tiên, cả trong tối lẫn ngoài sáng, đều bắt đầu từ Ung Châu.
Trước là Ung Châu mục Chu Kính An tự vẫn tuẫn tiết rồi hiến thành. Sau là giá lương dược phía nam Vị Thủy tăng vọt. Rồi đám địa bĩ đầu đường và dư nghiệt Tiền Lương, cứ liên tiếp gây phiền toái.
Bùi Tụng nghĩ, nếu có thể làm lại, sau khi chiếm Phụng Dương, hắn nhất định sẽ lập tức đánh Ung Châu, đồ sát đến gà chó không tha — có lẽ đã không còn nhiều hậu hoạn đến vậy.
Khi tiếng chiến cổ đầu tiên dưới thành vang lên, dù hắn đứng trên cao nhìn xuống, vẫn thấy rõ trong mắt người kia ánh nhìn như nhìn vật chết.
Bóng hình năm đó nơi vách núi đối diện khi vây giết Ngụy Kỳ Sơn lại hiện về trước mắt hắn.
Hắn lẩm bẩm một câu khó hiểu:
“Thật giống…”
Dưới thành, Tiêu Lệ lạnh lùng nhìn lên, rút bội kiếm bên hông, th*c m*nh ngựa lao ra, trầm giọng quát:
“Giết ——”
“Giết ——”
Sau lưng hắn, tiếng hô vang như sơn hà chấn động.
Ngàn quân vạn mã xung phong khiến mặt đất rung lên như sóng cát. Gạch đá trên thành dường như cũng run rẩy rơi xuống.
Đội quân đen như kiến trong chớp mắt hóa thành dòng nước lũ, tựa sóng biển sắp cuộn trào ngập trời.
Trận này, Bùi Tụng giám chiến đến nửa chừng thì rút về nội thành Lạc Đô.
Tất bại.
Đó là nhận thức rõ ràng nhất mà hắn từng có.
Bùi Tụng tự nhận mình thao túng quyền mưu khó gặp địch thủ, dưới trướng cũng chẳng thiếu mưu sĩ lắm phen hiến kế kỳ tuyệt.
Nhưng hắn chưa từng thấy một trận thế như vậy.
Tựa hồ… binh tốt dưới trướng và chủ soái hòa làm một thể. Quân trận biến hóa trong doanh đối phương linh hoạt như điều khiển tay chân của chính mình.
Tòa thành phía bắc Lạc Đô kia, bị con cự thú do nghìn vạn người ngưng tụ thành, xé toạc một cách dễ dàng.
Lá cờ “Tiêu” cắm lên thành bắc.
Tiêu Lệ lên thành, trông thấy phía xa trăm kỵ tinh nhuệ hộ tống một chiếc thanh bồng mã xa đang tiến về chân thành Lạc Đô.
Thân vệ bên cạnh không giấu nổi hưng phấn, lớn tiếng:
“Quân hầu! Chúng ta thắng rồi!”
Tiêu Lệ nhớ lại khoảnh khắc trước đó đối mắt với Bùi Tụng dưới thành. Mối huyết hận khiến hắn bao đêm khó ngủ đang theo dòng máu nóng dần lên mà sôi trào.
Hắn lạnh giọng:
“Tiếp tục phạt Lạc Đô.”
Vừa đến chân thành, Bùi Tụng như có cảm ứng, quay đầu nhìn về phía bắc thành.
Khoảng cách quá xa, đã chẳng còn thấy rõ bóng người trên thành lâu.
Nhưng hắn biết rõ kẻ đang nhìn mình là ai.
Vào tới đô thành, đến phủ trạch, Bùi Tụng bước xuống kiệu mà chân lảo đảo, phải nhờ Bùi Nguyên gần đó đỡ mới đứng vững.
Từ xa lại có ưng khuyển phi ngựa về báo:
“Báo — Tư Đồ! Nam thành đã thất thủ!”
Bùi Tụng dường như muốn gật đầu tỏ ý đã biết, nhưng vừa mở miệng liền phun ra một ngụm máu.
Chư tướng hoảng hốt gọi “Tư Đồ” định dìu hắn vào phòng, lại bị hắn giơ tay ngăn lại.
Hắn lau vết máu nơi khóe môi, hỏi:
“Hàn Kỳ đâu?”
Tên ưng khuyển sắc mặt xám xịt đáp:
“Âu Dương tướng quân trận vong, Hàn tướng quân bị sinh cầm đưa về Lương doanh.”
Bùi Tụng liền nói:
“Truyền lệnh ta, cố thủ bốn cửa Lạc Đô.”
Lạc Đô là hoàng thành, thành phòng kiên cố hơn hẳn mấy thành làm bình chướng ngoài kia. Quân thủ đầy đủ, lương thảo còn đủ, chống đỡ vài tháng cũng không thành vấn đề.
Vào nội thất, Bùi Tụng nói với Bùi Nguyên:
“Đem người ở biệt viện kia tới.”
Bùi Nguyên do dự:
“Chủ tử… người đó đã phát điên.”
Bùi Tụng cười mỉa:
“Ta biết.”
“Những thứ ông ta không dạy ta, lại dốc hết dạy cho con sói kia. Ông ta không phải muốn thủ hoàng thành hộ giá sao? Vậy để ông ta thủ đi.”
…
Ngoại vi Lạc Đô đã phá, tiếp theo các doanh cùng công thành, tất sẽ chạm mặt nhau.
Để tránh va chạm riêng, Lý Tuân đại diện Lương, Trần hai doanh đến Tiêu doanh.
Về việc tạm kết minh cùng phạt Bùi Tụng, Tiêu Lệ không dị nghị, tiếp kiến xong liền dứt khoát ký minh ước.
Lý Tuân đối với việc hắn rời Lương doanh, đến nay vẫn cảm khái. Lúc đứng dậy cáo từ, nhịn không được nhắc chuyện cũ:
“Quân hầu rời Lương doanh mà có được hôm nay, Lý mỗ rất lấy làm mừng. Nhưng chuyện độc tiễn năm ấy, thực có nhiều hiểu lầm…”
Tiêu Lệ giơ tay ngăn lại:
“Chuyện xưa năm ấy, Tiêu mỗ đã quên. Lý đại nhân từng có ơn chỉ giáo với Tiêu mỗ, lại nhiều lần đến Tiêu doanh. Hôm nay ta cũng nói rõ — ta không trở lại Lương doanh, không phải vì chuyện cũ.”
Mũi độc tiễn ấy, hắn sớm không còn để tâm.
Nhưng Lý Tuân lại hiểu lầm ý hắn, vội nói:
“Lý mỗ hôm nay nhắc lại chuyện ấy, không phải khuyên Quân hầu về Lương doanh.”
Ông cười phức tạp:
“Công chúa từng nhiều lần dặn dò, nói Quân hầu và lệnh đường đều là ân nhân, bảo chúng ta không được bạc đãi. Khi Quân hầu ở Bình Châu nghiên cứu binh pháp, chính là công chúa âm thầm dặn Lý mỗ giải đáp nghi vấn cho ngài…”
“Vụ ly gián của Bùi Tụng xảy ra, lệnh công vì đại cục buộc công chúa bắt ngài trở về. Công chúa nhiều lần tranh chấp, cuối cùng mỗi bên lùi một bước, phái Thanh Vân Vệ đi giải thích, mong ngài trở lại Bình Châu để cùng bàn cách cứu lệnh đường. Chỉ là lệnh công lúc ấy đã cực đoan, sợ công chúa vì ân tình xưa mà thả ngài đi, nên mới ngầm hạ lệnh — nếu ngài cố chấp không về, liền lấy mạng.”
Lý Tuân nói đến đây, mắt đỏ lên:
“Khi Chiêu Bạch mang tin ngài đã chết về, công chúa gần như muốn cùng lệnh công đoạn tuyệt, cách chức ông. Là Lý mỗ khuyên can trong nước mắt, để công chúa vì đại cục mà nhẫn nhịn, từ đó quyền giám chính đất Lương mới giao cho lệnh công, Trần đại nhân và Lý mỗ cùng chấp.”
“Cho đến khi gả sang đất Trần, công chúa cũng không gặp lại lệnh công một lần…”
“Sau này ngài về Ung Châu cứu mẫu thân, cứu Chu hiền điệt, chúng ta mới biết đó là độc kế của Bùi Tụng! Lệnh công nghe tin ngài có thể ở Thông Châu, liền từ Bình Châu đến tiền tuyến, chỉ mong tự mình gặp ngài, xin lỗi và mời ngài về Lương doanh. Nhưng thiên ý trêu người…”
Ông nghẹn giọng:
“Trong quân lại xảy ra chuyện Đậu Kiến Lương phản biến. Trận ấy Bắc Ngụy tổn thất hai vạn ở Mã Gia Lương, Lương doanh cũng thương vong nặng, Phạm tướng quân suýt chết vì một mũi độc tiễn. May nhờ thư ngài sớm sai người đưa về doanh mới thoát hiểm. Nhưng Đậu Kiến Lương cấu kết Bùi Tụng, vây truy chúng ta… Khi ấy Phạm tướng quân trúng độc hôn mê, Lý mỗ lại chỉ là văn thần…”
“Chạy đến Ngõa Diêu bảo gặp lệnh công, Lý mỗ suýt khóc lớn, chỉ sợ quân lực tổn thất sạch, cắt đứt căn cơ công chúa gây dựng trước khi vào Nam Trần. Là lệnh công cố chấp ở lại cùng Uất Trì lão tướng quân, chặn bước tiến của Bùi Tụng, mới giữ được Lương doanh. Nhưng ông ấy một đi không trở lại…”
Lý Tuân cúi đầu:
“Bao nhiêu chuyện chồng chất, người khổ nhất là công chúa. Cho đến khi lệnh công qua đời, Lương – Trần cách nghìn dặm, nàng cũng không kịp gặp mặt, chưa kịp nói một câu hóa giải. Chuyện mũi tên năm ấy, cũng chẳng thể thanh minh cùng ngài…”
“Trong lòng công chúa, vẫn luôn áy náy với Quân hầu. Vì vậy sau này dù ngài vào Ngụy doanh, mỗi lần ngài gặp nạn, công chúa đều sai chúng ta đón ngài về.”
Lý Tuân cúi người thật sâu:
“Lý mỗ hôm nay mạo phạm nói ra, không cầu gì khác — chỉ mong Quân hầu ngày sau chớ vì mũi tên năm ấy mà cùng công chúa, cùng Lương doanh sinh hiềm khích.”