Tuyết mịn lững lờ bay qua ô thiên song. Bùi Tụng nhấc chân lên, con châu chấu bện cỏ dưới đế giày đã bị nghiền nát bẹp.
Mọi hận thù, oán độc trong lòng hắn dường như đều trút cả vào một cước ấy. Nhìn kẻ già nua điên dại trong ngục, khóe môi lại hờ hững nhếch lên:
“Ngươi ôm khư khư hai chữ trung dũng, nửa đời bó tay bó chân. Đến cuối cùng vẫn bị cuốn vào vòng tranh đoạt đích vị mà chịu thanh toán, chẳng thấy nực cười sao?”
Lão điên nghe đến hai chữ “đoạt đích”, đôi tay mang xiềng xích đau đớn đập xuống nền đất. Đầu óc như nứt toác, tròng mắt vằn đầy tơ máu, gào lên:
“Ta không hề bức cung… không hề bức cung… Ta là đi cứu giá…”
Năm ấy tịch biên gia sản, dường như cũng là một ngày tuyết lạnh như thế.
Hơn hai trăm nhân khẩu trong phủ, thảy đều bị xiềng xích tống ngục, chỉ vì một màn “bức cung” đã được sắp đặt.
Hắn phủi lớp bụi mỏng trên đại sưởng, cất bước ra khỏi cửa lao, lạnh giọng:
“Cứ ở trong ngục này mà điên dại đến chết đi. Xuống Hoàng Tuyền rồi, tiếp tục kêu oan với Minh Thành cẩu hoàng đế của ngươi. Còn ta – loạn thần tặc tử – ắt sẽ tiễn mấy đại thế gia năm xưa bày mưu, cùng toàn tộc Ôn thị, xuống mồ chôn chung!”
Bùi Tụng vừa mang vẻ âm u rời khỏi đại lao Ung Châu, đã thấy thân vệ phóng ngựa hớt hải lao tới:
“Tư Đồ! Có biến rồi!”
—
Một canh giờ trước, tiền sảnh Chu phủ.
Địa long đốt rực, hơi ấm lan tràn. Ca cơ vũ cơ áo xiêm mỏng manh, giữa khoảng trống bày tiệc mà tấu nhạc múa hát, tiếng đàn sáo dập dìu.
Chu Tùy ngồi cuối yến, trên bàn không bày rượu thịt, chỉ có trà thanh và vài đĩa rau đạm bạc.
Bốn bề, các võ tướng giáp trụ chỉnh tề, trước án nhỏ chất đầy rượu ngon thịt béo. Theo lời Bùi Tụng, bên cạnh mỗi vị còn có một hai cô nương từ hoa phường đến hầu rượu.
Đám võ phu vươn tay bốc thịt, ăn uống thô lỗ. Rượu ngấm, lại bị hơi nóng hun lên, kẻ nào kẻ nấy mặt đỏ gay. Có kẻ chê cô nương thanh lâu bên cạnh không vừa mắt, nhe răng cười dữ tợn, giật lấy tỳ nữ rót rượu; kẻ khác loạng choạng đuổi theo vũ cơ trong sảnh. Tỳ nữ vũ cơ kinh hãi kêu thét, tiếng cười của đám võ phu càng thêm ghê tởm.
Chu Tùy cúi đầu, không dám nghe, cũng chẳng dám nhìn, chỉ thấy lòng lạnh buốt.
Đám võ tướng nhận ra thái độ của Bùi Tụng với hắn, liền ôm mỹ nhân mà cố ý bỡn cợt:
“Chu công tử, đãi khách phải cho chủ khách đều vui. Bọn ta đã tận hứng, còn công tử chỉ trà thanh rau nhạt, hóa ra tu khổ hạnh ư? Mỹ nhân chẳng lẽ đều không lọt mắt công tử, nên mới thưởng cả cho chúng ta? Chi bằng cũng ôm một người, nâng chén đi!”
Chu Tùy vẫn khoác tang phục, chỉ không đội ma cân. Ai nấy đều hiểu vì sao hắn kiêng rượu thịt.
Nhưng cái chết của Chu Kính An đã chạm phải điều kiêng kỵ của Bùi Tụng, chẳng ai dám nhắc.
Bị ép đến thế, Chu Tùy chỉ đành gượng cười:
“Chư vị tướng quân đường xa là khách. Các vị tận hứng là được. Trong bếp còn món chích dương nhục, ta đi thúc một tiếng.”
Rời khỏi tiền sảnh ngập mùi rượu thịt và hương phấn, tiếng kêu thét cũng khuất dần. Chu Tùy hít luồng không khí lạnh buốt ngoài hiên, nước mắt trào ra.
Lão quản gia xót xa:
“Công tử chịu ủy khuất rồi.”
Chu Tùy lắc đầu, giọng nghẹn ngào:
“Phù bá, bá cũng thấy đó. Những kẻ trong kia… còn là người sao? Chỉ là lũ cầm thú khoác da người mà thôi!”
Hắn khóc không thành tiếng:
“Non sông gấm vóc này, lẽ nào phải rơi vào tay đám heo chó ấy…”
Lão quản gia thở dài:
“Hay để lão nô thu xếp cho công tử một gian sương phòng tạm lánh?”
Chu Tùy lau lệ, khẽ lắc đầu:
“Tránh được hôm nay, sao tránh nổi ngày mai. Ta chịu nhục nhất thời cũng không hề gì, chỉ mong Ông Chủ sớm ngày thu phục Đại Lương. Đám người kia leo lên cao vị, bách tính nào còn ngày yên ổn? Thiên hạ dẫu đổi chủ, cũng phải là minh chủ!”
Lão quản gia nhớ đến cố chủ tuẫn tiết, lòng càng bi thống. Chủ tớ nhìn nhau, đều thê lương.
Chu Tùy không muốn trở lại yến tiệc, liền sang bếp xem chích dương nhục.
Trong sảnh, Hình Liệt uống rượu giải sầu, càng uống càng bực. Hai cô nương bên cạnh định rót thêm, đều bị hắn phất tay đẩy ra.
Hai cô nương quen cảnh này, nũng nịu oán trách:
“Tướng quân… thiếp hầu hạ chưa chu toàn nơi nào, mà người chẳng thương hoa tiếc ngọc?”
Võ tướng bên cạnh cười hỏi:
“Hình tướng quân sao vậy?”
Hình Liệt đã say bảy phần, đặt mạnh chén rượu xuống án, nhớ đến bóng dáng tang phục phong vận còn vương trước cổng phủ, liền gắt:
“Ngày ta công phá Lạc Đô, quý phụ tiểu thư cao môn, Tư Đồ mặc ta chọn lựa. Sao đến Ung Châu này, chỉ được chơi đám kỹ nữ hoa lâu?”
Ngồi bên tả chủ vị, vị Trưởng sử vẫn nhắm mắt ăn, nay mới lên tiếng:
“Ung Châu là hiến hàng, Hình tướng quân chớ buông lời.”
Hình Liệt không dám cãi, chỉ hậm hực giật cổ áo:
“Ta ra ngoài hít thở!”
Trưởng sử sợ hắn gây chuyện, bèn gọi cận vệ:
“Ngươi theo Hình tướng quân, chớ để sinh biến.”
Cận vệ lĩnh mệnh, lập tức đi theo.
Ngoài sân gió tuyết dày đặc. Hình Liệt bị gió lạnh thốc vào mặt, men rượu tan đi đôi phần, nhưng ngọn tà hỏa trong lòng lại càng bốc cao.
Hắn túm đại một tiểu tư đi ngang, tra hỏi cho ra viện lạc của Chu phu nhân, rồi mượn mấy phần men say, ánh mắt cuồng nhiệt mà bước về phía tây khóa viện.
Cận vệ theo sau thấy tình thế không ổn, vội tiến lên ngăn:
“Hình tướng quân, ngài định đi đâu?”
Lúc này trong đầu Hình Liệt chỉ toàn là dáng vẻ thê lương trong tang phục cùng thân hình đầy đặn của người phụ nhân ấy, tim nóng như thiêu. Lại có kẻ chắn đường, hắn giơ tay chém một cái vào cổ đối phương, đánh ngất tại chỗ, chửi rủa:
“Chỉ là một ả quả phụ! Chớ nói lão già họ Chu đã chết, dù hắn còn sống, lão tử cũng dám cưỡng đoạt! Công Tôn Trù lão thất phu ấy, suốt ngày ở trước mặt Tư Đồ nói xấu lão tử chưa đủ, còn dám quản lên đầu ta!”
Hắn nhổ toẹt xuống đất, bước chân lảo đảo tiếp tục đi về phía tây khóa viện.
—
Trong sảnh tây khóa viện đặt linh cữu Chu Kính An. Chu phu nhân quỳ trên bồ đoàn, nghe tiếng tơ trúc lờ mờ vọng từ tiền sảnh, đôi mắt đỏ hoe, đốt vàng mã cho vong phu.
Tiêu Huệ Nương nhìn sắc mặt Chu phu nhân chỉ trong hai ngày đã tiều tụy hẳn đi, khuyên nhủ:
“Phu nhân, người chết không thể sống lại. Công tử còn chưa thành gia, phu nhân phải bảo trọng thân mình. Nếu phu nhân ngã bệnh, công tử càng thêm khổ tâm.”
Chu phu nhân nước mắt lại rơi, nghẹn ngào:
“Nửa đời trước ta vẫn cho rằng mình phúc phận trọn vẹn. Khi còn là cô nương, phụ mẫu yêu thương; xuất giá rồi, phu quân lại là người mọi bề hợp ý. Ngâm thi họa, gảy đàn đối ẩm, chàng đều là tri âm tri kỷ. Nay chàng đi rồi… lòng ta như bị khoét mất một mảng. Sớm biết có hôm nay, thà khi trước ta gả cho người chẳng hợp ý mình…”
Tiêu Huệ Nương thở dài:
“Phu nhân đau quá nên nói lời hồ đồ.”
Chu phu nhân nắm tay Tiêu Huệ Nương, khóc không kìm được:
“Tiêu tỷ tỷ, tỷ dạy ta đi… khi tướng công của tỷ qua đời, tỷ đã làm sao mà chịu đựng được?”
Tiêu Huệ Nương khựng lại, hồi lâu không nói nên lời. Qua mấy nhịp thở mới chậm rãi đáp:
“Ta… không có tướng công.”
Chu phu nhân sững lại, còn tưởng bà cùng phu quân là oán ngẫu, nào ngờ Tiêu Huệ Nương bình thản nói tiếp:
“Thuở nhỏ quê nhà ta gặp lũ lớn, theo cha nương chạy nạn, giữa đường họ lại bị sơn tặc giết hại. Ta bị bán vào thanh lâu. Ta luôn muốn trở về cố hương, nhưng mỗi lần trốn đều bị bắt lại đánh đập thậm tệ. Gom tiền chuộc thân cũng không xong. Vào thanh lâu rồi, trước khi nhan sắc phai tàn, lầu nào chịu thả người? Sau này ta quen một phú thương, biết hắn từ quê ta đến đây buôn bán, muốn hắn chuộc ta về quê, nên lén bà mụ mà mang thai Hoan Nhi. Nào ngờ hắn đi rồi chẳng trở lại.”
Đáy mắt bà thoáng chút áy náy:
“Ta có lỗi với con. Sau khi sinh nó, ta đợi hai năm vẫn không thấy phú thương kia quay về. Thân giá cũng không còn như trước. Biết về quê vô vọng, ta lại đem hết oán hận trút lên đầu nó. Ta không muốn già chết trong lầu xanh, dù không về được quê, cũng muốn sống cho ra dáng người. Năm Hoan Nhi tám tuổi, ta mới dụ được một thương nhân bản địa chịu chuộc thân cho ta. Nào ngờ lại rước họa, Hoan Nhi vì bảo vệ ta mà vào ngục bảy năm.”
Chu phu nhân nghe mà kinh hãi, áy náy nói:
“Xin lỗi Tiêu tỷ tỷ, ta đâu hay những chuyện này…”
Tiêu Huệ Nương chỉ lắc đầu:
“Phu nhân là người có phúc. Ta cả đời đi hết đường nghiêng lối quẹo mới tỉnh ngộ: cha nó là ai thì liên can gì? Nó là miếng thịt rơi từ thân ta xuống, là con của ta. Từ lúc chưa biết đi, chưa biết nói, tiếng đầu tiên nó gọi là ‘nương’. Ta ghét nó, chán nó, nó lại sợ càng khiến ta chán, đến khóc cũng không dám khóc trước mặt ta. Bốn năm tuổi đã ôm chậu gỗ đi giặt y phục giúp ta…”
Nói đến đây Tiêu Huệ Nương nghẹn lời, mắt đỏ mà vẫn cười:
“Trước kia ta oán Bồ Tát không độ ta, giờ nghĩ lại, Bồ Tát nào có không độ? Người đã cho đứa trẻ ấy đến độ ta rồi…”
Chu phu nhân siết tay bà:
“Phúc của Tiêu tỷ tỷ đến muộn chút thôi. Ông Chủ còn từng khen ngợi Tiêu nghĩa sĩ, ngày sau ắt có chỗ làm nên.”
Tiêu Huệ Nương thoáng ngơ ngác:
“Ông Chủ?”
Chu phu nhân biết mình lỡ lời, chưa kịp giải thích, thì cổng viện đóng chặt đã bị người từ ngoài dùng sức đạp tung.
Hai người giật mình nhìn ra.
Chỉ thấy một đại hán cao lớn, nửa mặt rậm râu, khoác giáp trụ, say khướt xông vào.
Phủ vệ trông viện nhận ra hắn là tướng dưới trướng Bùi Tụng, không dám tùy tiện đuổi đi, chỉ nói:
“Vị tướng quân này e là uống quá chén, lạc đường rồi chăng? Đây là linh viện đại nhân nhà ta, để ta sai người đưa tướng quân trở lại yến tiệc.”
Đôi mắt say của Hình Liệt quét quanh viện, khi nhìn thấy Chu phu nhân quỳ trước linh đường, ánh mắt như bị ghim chặt. Hơi rượu nồng nặc, hắn lắp bắp:
“Lão tử… tìm chính là chỗ này…”
Hắn nhấc chân định bước vào. Chu phu nhân chạm phải ánh mắt ấy, tay chân lạnh buốt, đầu óc vì phẫn nộ mà choáng váng, phải nhờ Tiêu Huệ Nương đỡ mới khỏi ngã. Không biết là sợ hay giận, bà run rẩy chỉ vào Hình Liệt:
“Vô liêm sỉ! Mắt không lễ pháp… Đánh hắn ra ngoài cho ta!”
Phủ vệ lạnh giọng:
“Đắc tội! Tướng quân!”
Họ xông lên muốn kéo hắn ra ngoài. Nào ngờ Hình Liệt thúc khuỷu tay một cái, hất một người văng vào cổng viện, lại giật mạnh tay, hất văng kẻ đang giữ mình.
Hắn được Bùi Tụng trọng dụng, võ nghệ tự nhiên cao cường. Khi vây Phụng Dương, mấy mãnh tướng dưới trướng Trường Liêm Vương đều chết dưới đao hắn. Mấy phủ vệ nhỏ bé nào cản nổi.
Chỉ nhìn Chu phu nhân, hắn đã thở hồng hộc:
“Đừng không biết điều. Theo lão tử đi!”
Phủ vệ vừa kinh vừa giận, đồng loạt nhào lên giữ tay chân hắn, quát:
“Phu nhân mau đi!”
Quản sự bà tử trước nay chưa từng gặp cảnh hoang đường như vậy, ai nấy đều chết lặng.
Đến khi bị tiếng quát kéo tỉnh, mới run chân chạy tới, cùng Tiêu Huệ Nương dìu Chu phu nhân về phía cửa bên, lại lớn tiếng sai tiểu tư:
“Mau! Mau đi tiền sảnh gọi người!”
Hình Liệt thấy người sắp thoát, quát lớn, hất văng đám phủ vệ, một cước đạp gãy sống lưng một người, hung tợn nói:
“Đừng phá chuyện tốt của gia gia ngươi!”
Một phủ vệ tức giận, rút đao chém tới, muốn làm bị thương hắn rồi bắt lại. Nào ngờ Hình Liệt phản tay đoạt đao, một nhát chém rơi đầu đối phương, quát:
“Tìm chết!”
Tỳ nữ tiểu tư nào từng thấy cảnh máu me như vậy, tức thì thét chói tai.
Chu phu nhân cùng một đám phụ nữ trẻ nhỏ nghe tiếng kêu, ngoảnh đầu lại, chỉ thấy cái đầu lâu lăn lông lốc trên đất, hai chân mềm nhũn, suýt nữa không bước nổi.
Tiêu Huệ Nương xuất thân thanh lâu, loạn tượng từng thấy còn nhiều hơn, miễn cưỡng trấn định tâm thần, dùng sức kéo Chu phu nhân đứng dậy:
“Mau đi!”
Đám bà tử tuy còn đỡ Chu phu nhân, nhưng tay chân chính mình đã mềm nhũn như bún.
Phủ vệ không còn nương tay, đồng loạt rút đao liều mạng với Hình Liệt, song rốt cuộc vẫn không địch nổi. Chẳng mấy chốc, trong viện đã ngã la liệt thi thể.
Hình Liệt một phen động võ, men rượu trong người hoàn toàn bị kích phát, đầu óc hưng phấn đến dị thường.
Dịch và biên tập bởi Mẹ Bông Bom!!!
Hắn xách đao đuổi theo mấy bước, gặp người liền chém. Tiếng khóc than, tiếng thét chói tai vang dội khắp linh đường, mà hắn chỉ thấy khoái trá trong lòng, cất tiếng cười dữ tợn, vung đao chém xuống đám bà tử đang che chở Chu phu nhân.
Tiếng kêu thảm nối nhau vang lên, từng người ngã gục trong vũng máu.
Chu phu nhân nghe những tiếng kêu ấy, hai chân càng mềm nhũn, đẩy mạnh tay Tiêu Huệ Nương, nước mắt ròng ròng:
“Phu nhân, người đi đi!”
Nhưng Hình Liệt chỉ một cái vung tay đã hất bà ra. Tiêu Huệ Nương bị quăng mạnh, đầu đập vào cột, hoa mắt một thoáng.
Tiêu Huệ Nương trơ mắt nhìn Hình Liệt cười gằn, một tay nhấc bổng Chu phu nhân khỏi mặt đất, ép bà lên bàn bày đồ tế, xé toạc tang phục trên người bà. Chu phu nhân khóc đến đứt ruột. Không biết từ đâu dồn lên một cỗ lực khí, bà loạng choạng xông tới, vác chiếc ghế dài bên cạnh, nện thẳng vào đầu Hình Liệt, mắng:
“Đồ heo chó không bằng!”
Hình Liệt không kịp đề phòng, trán bị nện rách, máu chảy xuống. Hắn che trán, lắc đầu cho tỉnh.
Nhân cơ hội ấy, Tiêu Huệ Nương cởi áo khoác của mình phủ lên người Chu phu nhân, đỡ bà dậy định rời đi.
Hình Liệt nổi giận, nhặt đao dưới đất, cơ mặt giật giật, vung tay chém xuống lưng Tiêu Huệ Nương.
Tiêu Huệ Nương lảo đảo, không còn sức đỡ Chu phu nhân. Áo bông sau lưng thấm máu. Bà mềm nhũn ngã xuống, miệng khẽ mở, đôi mắt trân trân nhìn về phía trước, dường như còn vướng bận ai đó.
Ngoài viện lúc này vang lên tiếng bước chân hỗn loạn, kèm theo một tiếng quát lớn:
“Hình Liệt, chớ có hồ đồ!”
Như bị gậy giáng xuống đầu, Hình Liệt bừng tỉnh. Nhìn ra cổng viện, thấy một đám người ùn ùn kéo tới cùng sắc mặt âm trầm của Trưởng sử, dục niệm trong đầu hắn rốt cuộc lắng xuống. Hắn không dám tiếp tục làm càn với Chu phu nhân nữa, chỉ không chịu nhận sai:
“Đều do tiện phụ kia không biết điều…”
Ánh mắt Trưởng sử quét qua đầy viện thi thể và tang phục rách nát của Chu phu nhân, tức đến run người, chỉ tay vào Hình Liệt, muốn mắng mà nghẹn lại, chỉ bật ra được một tiếng:
“Ngươi—!”
Chu phu nhân co quắp ngồi dưới đất, năm ngón tay trắng bệch siết chặt vạt áo. Nhìn linh cữu phủ lụa trắng hoa minh của phu quân, trong mắt chỉ còn một màu chết lặng.
Ngay khi Trưởng sử đang quở trách Hình Liệt, bà đột nhiên lao vụt về phía trước. Áo khoác trên người rơi xuống đất. Bà dùng hết sức, đập đầu vào quan quách của Chu Kính An.
Một tiếng “rầm” vang lên, máu bắn tung trên lụa trắng.
Chu phu nhân đầu vỡ máu chảy, đổ gục bên quan tài. Cú va quá mạnh khiến quan quách xê dịch, nghiêng lệch rồi lật xuống đất, lại một tiếng động kinh thiên, tựa sét đánh.
Quan tài của Chu Kính An rơi xuống.
Cả viện nhất thời lặng như tờ.
Chu Tùy đang ở đại trù phòng, nghe tin liền chạy như điên tới, lăn lộn bò vào viện. Khi thấy thi thể ngổn ngang và xác mẫu thân trong linh đường, hắn gào khóc như trẻ nhỏ:
“Mẫu thân——”
Hắn gần như quỳ bò vào linh đường, ôm lấy thi thể Chu phu nhân. Thấy tang phục bị xé rách, nước mắt giàn giụa mà sắc mặt lại dâng lên vẻ dữ tợn, hai mắt đỏ ngầu, chửi lớn Hình Liệt:
“Súc sinh! Đồ heo chó không bằng!”
Hình Liệt biết mình gây họa, nhưng không cho là việc lớn. Nay bị một tiểu tử tay trói gà không chặt mắng như vậy, sắc mặt lại nổi giận, quát:
“Lão tử theo Tư Đồ từ Ngạc Châu chinh chiến đến Lạc Đô, chiến công hiển hách! Hôm nay dù có giết luôn cả ngươi thì đã sao?”
Trưởng sử quát lớn:
“Hình Liệt!”
Chu Tùy hai mắt đỏ quạch, bỗng cười ha hả:
“Giết đi! Ngươi giết đi! Người Chu gia ta chết dưới tay các ngươi còn chưa đủ sao?”
Hắn nhìn đám tướng thần họ Bùi trong viện, cười điên dại:
“Sớm biết hiến hàng lại chịu nhục thế này, Chu thị ta thà chết không hàng! Để thiên hạ nhìn xem, đây là kết cục của kẻ đầu hàng Bùi Tụng!”
Hắn nhặt một thanh trường đao dính máu dưới đất, định cứa cổ tự vẫn.
Trưởng sử quát:
“Cản hắn lại!”
Một tiếng “đinh” vang lên, thanh đao trong tay Chu Tùy bị một mũi tên từ ngoài viện bắn trúng, văng khỏi tay.
Một giọng nói trầm lạnh truyền vào:
“Đầu hàng ta thì là kết cục gì?”
Trưởng sử cùng chư tướng nhìn ra, thấy người tới, đều mừng rỡ:
“Chủ quân đã về!”
Bùi Tụng trao cung cho thân vệ, sải bước vào viện. Ánh mắt quét qua thi thể khắp nơi và mấy cái xác trong linh đường, sắc mặt càng lạnh thêm.
Hình Liệt trước mặt hắn không dám cuồng vọng nữa, cúi đầu thấp giọng:
“Tư Đồ.”
Bùi Tụng vung roi quất thẳng vào mặt hắn, lạnh giọng mắng:
“Đồ ngu!”
Trên mặt Hình Liệt lập tức hằn một vệt máu, nhưng hắn chỉ cúi đầu, không dám hé răng.
Chu Tùy cười thảm hỏi:
“Bùi Tư Đồ cho rằng Chu gia ta đây là kết cục gì?”
Thân binh lập tức tiến lên lôi Hình Liệt đi.
Bùi Tụng nói với Chu Tùy:
“Kẻ dưới phạm lỗi, ta tự sẽ nghiêm trị.”
Chu Tùy cười lớn, giọng bi thương:
“Người chết dưới linh tiền phụ thân ta đã hơn hai mươi kẻ! Con súc sinh ấy còn toan làm nhục mẫu thân ta, ép bà tự vẫn! Tất cả những điều ấy, chỉ đáng hai mươi quân côn sao?”
Bùi Tụng tháo bội đao ném cho hắn:
“Nếu ngươi có gan, thì cầm đao giết hắn!”
Chu Tùy hai mắt đỏ ngầu, nhặt đao, quát lớn:
“Ta sao lại không dám giết hắn?”
Hắn rút đao, gào thét xông tới Hình Liệt. Nhưng trước nay hắn chưa từng giết nổi một con gà, đường đao sơ hở trăm bề, mỗi nhát đều bị Hình Liệt dễ dàng né tránh. Cuối cùng mệt đến nỗi không nhấc nổi đao, mồ hôi ròng ròng, vẫn nghiến răng hét:
“Ta nhất định giết ngươi!”
Nhát cuối cùng chém tới, Hình Liệt không chỉ né được, còn quét chân đá mạnh vào cổ hắn, khiến hắn ngất lịm.
Hắn đoạt lấy đao, định chém xuống, Trưởng sử quát:
“Không được!”
Hình Liệt thu đao, nhìn Trưởng sử:
“Giữ phế vật này lại có ích gì?”
Trưởng sử trừng mắt:
“Ngươi câm miệng!”
Ông ta quay sang vái Bùi Tụng:
“Chủ quân, người đã thử thăm dò rồi. Chu thị tiểu nhi này chỉ có một bụng oán hận, không mưu lược, khó thành đại khí, không lật nổi sóng gió. Xin hãy lưu lại một mạng. Như hắn nói, Ung Châu hiến hàng, nếu Chu gia bị diệt môn, truyền ra ngoài, còn ai dám hiến hàng? So với mấy lời bất kính trong lúc biến cố này, chủ quân nên lấy đại cục làm trọng.”
Bùi Tụng liếc nhìn Chu Tùy đang hôn mê dưới đất:
“Cứ theo lời Trưởng sử.”
Thuộc hạ hỏi:
“Chủ quân, thi thể đầy viện này xử trí thế nào?”
Bùi Tụng lạnh nhạt:
“Kéo ra bãi tha ma.”
Hắn vừa định rời đi, chợt nghe trong linh đường một phụ nhân yếu ớt gọi:
“Hoan Nhi… Hoan Nhi…”
Hắn bỗng quay lại. Thấy người phát ra tiếng là một phụ nhân như tỳ bộc, liền hỏi:
“Phụ nhân này là ai?”
Trưởng sử nhìn trang phục Tiêu Huệ Nương:
“Có lẽ là tỳ bộc Chu gia.”
Bùi Tụng nheo mắt nhìn nàng một lát:
“Xem ra còn chưa tắt thở. Gọi lang trung tới, dốc sức cứu sống. Ta có lời muốn hỏi phụ nhân này.”
—
Một đàn quạ lạnh vỗ cánh bay khỏi cành cây, hoàng hôn dần khép lại.
Đám phủ vệ đi tuần ngoài phố dẫm lên lớp tuyết dày trở về, ai nấy mình mẩy đều mang thương tích, mệt mỏi rã rời.
Quân Bùi vào thành đến hàng nghìn người, ắt có những kẻ du côn nhân cơ hội phát tài, đốt giết cướp bóc, không điều ác nào không làm. Hôm nay bọn họ chạy khắp nơi, song những gì ngăn cản được cũng chỉ là phần nổi.
Một phủ vệ ôm cánh tay trật khớp, cắn răng nói:
“Hôm nay ta bị đánh như bao cát vậy, nếu không có Tiêu ca, chưa chắc chúng ta còn mạng mà về.”
Người khác thở dài:
“Chỉ mong vị Bùi Tư Đồ kia sau này trị quân nghiêm hơn. Nhưng nghe nói lúc công phá Lạc Đô, đám thế gia quý nữ đều bị cưỡng đoạt, vương công quý tộc còn bị phóng hỏa thiêu phủ. Ở Ung thành này, hắn còn có thể kiềm chế đến đâu?”
Mấy phủ vệ nghe vậy càng thêm chán nản:
“Thế chúng ta phải làm sao? Nhân thủ ít ỏi thế này, tuần tra không xuể. Chúng ta chỉ xử được những tên quân hỗn vừa khéo bắt gặp. Những chỗ khác, đợi nhận được tin rồi chạy tới, cũng đã muộn.”
“Đúng vậy, công tử cũng không thể điều thêm người, bằng không khác nào công khai đối đầu với Bùi Tư Đồ.”
Tiêu Lệ vẫn lặng lẽ đi suốt đường, bỗng cất tiếng:
“Ta có một cách. Mỗi con phố để nam đinh tự phát lập đội hộ vệ, canh giữ lẫn nhau. Một nhà gặp nạn, láng giềng đều đứng ra tương trợ. Như vậy ít nhiều cũng khiến lũ cặn bã kia kiêng dè, đồng thời giúp chúng ta tranh thủ thêm thời gian.”
Phủ vệ nghe xong đều tán thành:
“Tiêu ca, cách này hay! Công tử hiện như đi trên băng mỏng, phủ nha Ung Châu không thể làm quá nhiều, nhưng có thể để bách tính tự kết lại thành một sợi dây!”
Vừa nói chuyện, đoàn người đã đến Chu phủ. Vào phủ xong, họ đi thẳng về phía tây khóa viện, song dọc đường gặp hạ nhân đều khóc lóc sụt sùi.
Một phủ vệ gặp tỳ nữ quen, hỏi:
“Kim Quất tỷ, mọi người sao thế?”
Tỳ nữ khóc nức nở:
“Phu nhân chết rồi… công tử bị đánh trọng thương… còn rất nhiều hạ nhân… đều chết cả…”
Sắc mặt Tiêu Lệ lập tức biến đổi:
“Chuyện gì xảy ra?”
Tỳ nữ vừa khóc vừa đáp:
“Tướng dưới trướng Bùi Tư Đồ uống say trên tiệc, chạy đến tây khóa viện làm càn, nhục mạ phu nhân, giết rất nhiều người. Phu nhân không chịu nhục, đập đầu vào quan quách đại nhân mà chết…”
Vừa nghe đến tây khóa viện, Tiêu Lệ đã chẳng còn nghĩ được gì nữa, lập tức lao đi.
“Lũ súc sinh…” Một phủ vệ bên cạnh giận dữ, đấm mạnh vào thân liễu, rồi chợt biến sắc: “Nguy rồi! Nương của Tiêu ca cũng ở tây khóa viện!”